LỊCH SỬ
DÒNG THÁNH THỂ
1- DÒNG THÁNH THỂ
Dòng Thánh Thể do thánh Phê-rô Giu-li-a-nô E-ma (Eymard) sáng lập tại Pháp, năm 1856.
- Đó là “một hội dòng giáo sĩ, thuộc quyền Giáo Hoàng, gồm các linh mục, phó tế và tu huynh” (1).
- Lý tưởng của dòng là “sống sung mãn mầu nhiệm Thánh Thể và tỏ bày ý nghĩa của mầu nhiệm ấy, để Đức Ki-tô được hiển trị và vinh quang Thiên Chúa được rạng tỏ trên trần gian” (2)
2- TÊN CHÍNH THỨC CỦA DÒNG LÀ:
SOCIETAS SANCTISSIMI SACRAMENTI
Viết tắt: SSS.
I- GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ
A- CÁC ƠN CHUẨN BỊ
Như chúng ta biết, ơn gọi của Cha Thánh E-ma (Eymard) là ơn gọi thánh thể, tức ơn kêu gọi tận hiến cuộc đời để phụng sự Bí Tích Tình Yêu được thể hiện cách cụ thể qua công cuộc THIẾT LẬP DÒNG THÁNH THỂ:
“Chúa đã kêu gọi tôi để phục vụ Thánh Thể, cho dù tôi bất xứng. Nhưng Người đã chọn tôi để hoạt động cho Hội Dòng của Người, mặc dầu tôi bất tài và sức khỏe của tôi thật mỏng manh. Người đã dẫn tôi đi từ cái chết và qua cái chết để tới sự sống của Hội Dòng. Tất cả những gì người đời cho là không thể được, đã diễn ra cách dễ dàng và theo đúng hạn kỳ Chúa ấn định. Chỉ Thiên Chúa mới đáng được yêu mến và tôn vinh” (3).
Để dẫn dắt Thánh E-ma tới mục tiêu ấy, Thiên Chúa đã ban cho ngài nhiều ơn đặc biệt mà ngài gọi là “những ơn chuẩn bị”:
“Chúa nhân lành đã quá yêu thương tôi. Người đã dẫn dắt tôi tới Dòng Thánh Thể. Mọi ơn của tôi trước đó đều là những ơn chuẩn bị, mọi trạng thái của tâm hồn tôi trước đó đều là thời kỳ tập sự. Thánh Thể luôn chi phối cuộc sống tôi” (4).
Những ơn chuẩn bị gồm có:
a- Gia đình: Cha E-ma xuất thân từ một gia đình rất đạo đức và tốt lành: “Cha ngài là một người rất lương thiện, còn mẹ ngài thì quả là một vị thánh”(5), đặc biệt mẹ ngài có một lòng yêu mến nồng nhiệt đối với Thánh Thể.
b- Các ơn của thời thơ ấu: Xuất thân từ một gia đình đạo đức nhiệt thành, nhất là có một người mẹ đạo đức thánh thiện như vậy, nên ngay từ thời thơ ấu, cha E-ma đã hấp thụ được một đức tin mạnh mẽ, một lòng đạo đức nhiệt thành, nhất là một lòng sùng kính và yêu mến Thánh Thể sâu xa. ĐÓ LÀ THỬA ĐẤT PHÌ NHIÊU MÀ THIÊN CHÚA CHUẨN BỊ ĐỂ GIEO HẠT GIỐNG ƠN KÊU GỌI THÁNH THỂ. Hạt giống ấy đã nẩy mầm và phát triển dần qua những năm của thời thơ ấu, rồi những năm chuẩn bị để tiến tới chức linh mục và những năm đầu của đời linh mục. Một vài chi tiết sau đây chứng tỏ điều đó.
c- Các ơn trong thời gian là linh mục triều:
- Phó xứ Sát (Chatte):
Trong khi làm phó xứ tại Sát (Chatte), cha E-ma luôn đặt Thánh Thể làm trung tâm và tột đỉnh cho mọi hoạt động và toàn thể cuộc sống của ngài. Ngài luôn qui hướng tất cả về Thánh Thể.
- Ơn tại Róc Xanh Rô-mân (Rock of Saint Romans)
Cha E-ma thường tháp tùng cha sở của ngài đến thăm một cha bạn cùng lớp với cha sở ở Xanh Rô-mân (Saint Romans). Lần kia, trong khi hai cha hàn huyên với nhau, cha E-ma ra ngoài và một mình lên đồi Can-va-ri-ô cầu nguyện. Trong khi cầu nguyện, ngài được một ơn đặc biệt mà không ai biết rõ bản chất thực của ơn ấy là gì, chỉ biết rằng, ơn ấy đã ảnh hưởng mãnh liệt đến suốt cuộc đời ngài. Trong thơ gởi bà Gioóc-đăng (Jordan), ngài viết: “Nơi tảng đá thần bí ấy, cha đã được chiêm ngưỡng trời cao với tất cả vẻ đẹp và tinh trong” (6).
- Cha sở Mông-tê-na (Monteynard):
Trong thời gian làm cha sở ở Mông-tê-na (Monteynard), tình yêu và lòng nhiệt thành đối với Thánh Thể cứ mỗi ngày một gia tăng. Một vài chi tiết sau đây chứng tỏ điều đó:
- “Ước chi con chỉ hoạt động cho vinh danh Chúa mà thôi. Ước chi người ta nhận biết Chúa nơi Thánh Thể và ước chi đời sống của Chúa được thể hiện qua đời sống của con. Lạy Chúa, xin cho tất cả những ý nguyện ấy, bây giờ và mãi mãi là cùng đích, là nguyên lý và là nguyên nhân của đời sống con” (7).
- “Trước Thánh Thể, trong thánh đường này, con xin lấy chính máu mình mà ký kết xác nhận ý chí cương quyết của con, trong khi đặt hết tin tưởng vào Chúa” (8).
d- Các ơn trong Dòng Đức Mẹ.
- Ơn ở xứ Thánh Phao-lô, Li-ông (Lyon).
Ngày 25 tháng 5, 1845, Chúa Nhật trong tuần Bát Nhật kính Mình Máu Thánh Chúa, cha E-ma được cha sở Họ Thánh Phao-lô mời mang Mình Thánh Chúa đi rước kiệu. Trong khi rước, cha E-ma được ơn đặc biệt mà ngài ghi lại như sau:
“Tâm hồn tôi lúc ấy được tràn đầy niềm tin vào Bí Tích Thần Linh và được tràn ngập tình mến Chúa. Hai tiếng đồng hồ trôi qua mà tôi cảm thấy ngắn ngủi dường như chỉ trong giây lát. Lúc ấy tôi đã đặt dưới chân Chúa: Hội Thánh, Nước Pháp, mọi tín hữu và chính bản thân tôi. Tâm hồn tôi tràn ngập niềm vui không thể tả xiết! Tôi ước mong có được lòng nhiệt thành lớn lao như Thánh Phao-lô. Sau đây là những điều tôi hứa với Chúa trong cuộc rước long trọng và đáng ghi nhớ ấy. Vì kể từ tháng này, tôi cảm thấy một sức hấp dẫn mãnh liệt chưa từng có đối với Thánh Thể. Sức hấp dẫn ấy thôi thúc tôi trong khi giảng giải, cũng như khi hướng dẫn các tâm hồn, phải làm sao cho mọi người nhận biết và yêu mến Chúa Giê-su trong Thánh Thể. Sức hấp dẫn ấy cũng thôi thúc tôi chỉ rao giảng về Chúa Giê-su trong Thánh Thể mà thôi. Tôi đã thực hiện như vậy trong nhiều trường hợp, chẳng hạn trong tòa giải tội, hay trong khi giảng dạy. Chúa đã chúc lành cho công cuộc của tôi. Với tất cả lòng chân thành, tôi hứa với Chúa là sẽ tận hiến toàn thân và trọn cuộc sống để phục vụ cho công cuộc này. Tôi quyết định như vậy và công cuộc đó sẽ là đối tượng cho mọi lời cầu nguyện cũng như cho mọi khát vọng của tôi”.
- Ơn ở Phuốc-vi-e (Fourvière)
Ngày 21 tháng Giêng, 1851, trong khi cầu nguyện tại Đền Đức Mẹ ở Phuốc-vi-e (Fourvière), cha E-ma được ơn thôi thúc phải thực hiện một công cuộc gì cho Thánh Thể, ngài viết:
“Ơn ở Phuốc-vi-e (Fourvière) chính là ơn kêu gọi của tôi, Chúa phải chịu cảnh cô đơn trong Thánh Thể, không có môät dòng tu nào để phụng sự, tôn kính và quan tâm đến vinh quang của Người! Tại sao tôi lại không thực hiện một công cuộc gì, chẳng hạn một Hội Dòng Ba?” (9).
- Ơn ở La Xen-xuyệc-me (La Seyne-sur-mer)
Ơn ở La Xen-xuyệc-me (La Seyne-sur-mer) chính là ơn tiếp nối và bổ túc cho ơn ở Phuốc-vi-e (Fourvière): “Tại sao tôi lại không thực hiện một công cuộc gì?”. Ơn ở La Xen-xuyệc-me chính là ƠN LẬP DÒNG THÁNH THỂ, như cha E-ma tiết lộ cho bà Tô-lanh Bô (Tholin Bost):
“Ngày 18 tháng 4 (1853), trong khi cám ơn sau Rước Lễ, bỗng nhiên cha cảm thấy một cảm xúc mãnh liệt là phải tri ân và yêu mến Chúa Giê-su, và cha đã thưa với Người: ‘Con có thể làm được gì cho Chúa?’. Một ý tưởng ngọt ngào và êm đềm, nhưng hết sức mãnh liệt và hấp dẫn khiến cha cảm thấy sung sướng khi nghĩ đến việc tận hiến mình để phụng sự Bí Tích Thánh Thể, khi nghĩ đến việc xin phép để thực hiện công cuộc ấy, đến việc tìm cách duy trì và phát huy công cuộc vĩ đại là Chầu Thánh Thể liên tục, đến việc thúc bách thành lập Dòng Thánh Thể. Con thân mến, đó chẳng phải là ý tưởng cao đẹp lắm sao? Vì kể từ ngày thành lập Hội Thánh đến nay, chưa có một Dòng Tu nào chuyên phục vụ Bí Tích Thánh Thể; chưa có một đội cận vệ, một triều đình và một gia đình cho Thánh Thể, trong khi các mầu nhiệm khác đều có những Hội Dòng để tôn vinh và rao giảng về các mầu nhiệm ấy, điều đó lại không đáng ngạc nhiên lắm sao? Cha cảm thấy sẵn sàng chấp nhận mọi hi sinh vì Chúa Giê-su trong Thánh Thể”(10).
- Thừa hưởng dự án của Cha Cô-lanh (Colin).
Khi cảm thấy tuổi già sức yếu, cha Cô-lanh (Colin) có ý định thiết lập một trung tâm để chầu Thánh Thể ngày đêm. Ngài định ủy thác công cuộc ấy cho cha E-ma. Vì thế ngài đã chia sẻ hết với cha E-ma về dự án mà ngài suy tính và soạn thảo rất kỹ lưỡng từ lâu. Cha E-ma được thừa hưởng dự án ấy của cha Cô-lanh (Colin) và công cuộc của ngài hầu như mô phỏng lại hoàn toàn dự án ấy.
Chúa quan phòng đã đặt cha Cô-lanh trên đường hành trình đi tới công cuộc thánh thể của cha E-ma.
B-KẾT LUẬN
Trên đây là những ơn chuẩn bị mà cha E-ma nhận được theo chương trình quan phòng của Chúa. Ngài đã đón nhận những ơn ấy với một tâm hồn cởi mở và luôn sẵn sàng cộng tác với ơn Chúa bằng cách cố gắng bảo tồn và phát huy ơn kêu gọi của mình. Nhất là ngài luôn sẵn sàng dâng hiến trọn cuộc sống để thực hiện chương trình mà Chúa ủy thác cho ngài. Vì thế, đời sống của ngài quả là một mẫu gương tuyệt hảo cho cuộc hành trình thiêng liêng của mỗi tín hữu cũng như của các linh mục và tu sỹ.
II- GIAI ĐOẠN THÀNH HÌNH
VÀ CHÀO ĐỜI CỦA DÒNG
Chúa đã ban cho cha E-ma “những ơn chuẩn bị” để dẫn dắt ngài từng bước cho tới khi ngài nhận thức rõ thánh ý Chúa muốn ngài hiến trọn cuộc đời cho Thánh Thể.
Qua những ơn soi sáng, cha E-ma cảm nghiệm được cách rõ rệt Thánh Ý Chúa và ngài quyết định thực hiện công cuộc Chúa đã tỏ ra cho ngài. Công cuộc ấy được thực hiện qua các giai đoạn sau:
- Xác nhận ơn kêu gọi.
- Khai sinh Dòng.
- Đoản Sắc Tán Thưởng.
- Sắc Lệnh Châu Phê Dòng.
1- XÁC NHẬN ƠN KÊU GỌI
Ơn kêu gọi của cha E-ma là ơn kêu gọi hiến thân phụng sự Thánh Thể. Ơn kêu gọi này được thể hiện cách cụ thể qua công cuộc thành lập Dòng Thánh Thể. Đối với cá nhân cha E-ma, Thánh Ý Chúa đã rõ rệt, không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy nhiên, ngài vẫn luôn thận trọng và nhất là luôn tuân phục giáo quyền. Vì thế, ngài đã tham khảo ý kiến với các bạn bè, cũng như với những người khôn ngoan, đạo đức và từng trải, nhất là với các giới thẩm quyền của Hội Thánh, đặc biệt là với các vị sau đây:
a- Cha An-phông (Alphonse), Bề Trên Giám Tỉnh của Ca-pu-sanh, Li-ông (Capuchin, Lyon). Ngài khuyên cha E-ma: “Nếu tư tưởng ấy cứ tái diễn mãi, hãy trình bày với Bề Trên Tổng Quyền, vì ngài được ơn phân định về các vấn đề đó” (11).
b- Cha Giăng-đen (Jandel), Bề Trên Tổng Quyền Đa-minh cũng rất ủng hộ dự án của cha E-ma. Vì thế cha E-ma đã nhờ cha Giăng-đen (Jandel) đạo đạt dự án này lên Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX và sau khi nghe cha Giăng-đen (Jandel) trình bày, Đức Thánh Cha nói: “Đó là công cuộc rất tốt đẹp, nếu được thực hiện, Ta sẽ rất sung sướng chúc lành cho công cuộc ấy” (12).
c- Cha Tút-sơ (Touche) là một bạn thân mà nhiều lần Chúa đã dùng ngài để can thiệp vào đời sống cha E-ma. Cha E-ma cũng nhờ ngài đạo đạt lên Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX dự án về thánh thể. Đức Thánh Cha nói với cha Tút-sơ (Touche): “Ta tin chắc công cuộc này phát xuất từ Thiên Chúa. Chúng ta phải dùng mọi cách để làm cho người ta nhận biết Thánh Thể” (13).
d- Cha Pháp-vờ-rờ (Favre), Bề Trên Tổng Quyền Dòng Đức Mẹ, người kế vị cha Cô-lanh (Colin). Trên cương vị là Bề Trên Tổng Quyền, ngài phải hết sức đắn đo và thận trọng nghiên cứu vấn đề. Thoạt đầu ngài tìm mọi cách để thuyết phục cha E-ma từ bỏ ý tưởng về dự án thánh thể. Nhưng sau khi đã cầu nguyện và suy nghĩ chín chắn, ngài bằng lòng tháo gỡ lời khấn cho cha E-ma để ngài được tự do thực hiện công cuộc đặc biệt mà Chúa ủy thác cho ngài. Trong thơ gởi cha Đờ Qui-es (de Cuers), cha E-ma báo tin:
“Lúc 9 giờ sáng nay, Cha Bề Trên Tổng Quyền đã tới phòng tôi; chúng tôi ra ngoài đi dạo. Sau khi đề cập đến một vài vấn đề lặt vặt, cuối cùng chúng tôi đã đi vào dự án thánh thể.
Cha Bề Trên nói với tôi:
‘Tôi đã suy nghĩ kỹ về trường hợp của cha, tôi cũng đã tham khảo ý kiến với cha Giăng-đen (Jandel), cha An-phông (Alphonse) và với Đức Cha Luy-kê (Luquet). Cả ba vị đều bảo tôi là không nên - và trên thực tế, - cũng không thể cho phép cha dấn thân vào công cuộc này được, hay tháo gỡ lời khấn cho cha được. Tôi có ý định tâu lên Đức Giáo Hoàng về công cuộc này, nhưng khi được vào triều yết Ngài, tôi đã hoàn toàn quên đi mất. Chắc chắn Chúa đã để xẩy ra như vậy. Vì thế chúng ta phải tự giải quyết lấy vấn đề: hoặc là cha phải bỏ ý tưởng này đi, hoặc là cha phải bỏ Dòng. Nhưng nếu cha quyết định bỏ Dòng, tôi sẽ không tháo gỡ lời khấn cho cha. Tôi không thể làm như vậy được. Ở Rô-ma, người ta bảo tôi, Đức Giáo Hoàng sẽ gởi trả lại vấn đề cho tôi để giải quyết, và cha sẽ không được tự do đâu’.
Tôi suy nghĩ và tự nhủ rằng: ‘Đã đến lúc phải tranh đấu quyết liệt, lạy Chúa, xin giúp con’, và tôi đáp lại:
- Thưa cha, ba vị trên chỉ xét đoán theo luật chứ không theo cảm nghiệm của con, nghĩa là không theo sự kiện. Các ngài không thể xét đoán được những gì thực sự xẩy ra nơi tâm hồn con, hay theo ơn thúc đẩy của con. Ngoài ra, trong cuộc khảo sát của các ngài, con cũng không có mặt ở đó để biện minh cho mình.
- Nhưng xác tín của cha dựa trên căn bản nào? Đâu là bằng chứng siêu nhiên về ơn gọi mới của cha?
- Con không có phép lạ, cũng chẳng có thị kiến hay bất kỳ bằng chứng phi thường nào cả. Chúa đã lôi kéo con cách mãnh liệt, đặc biệt là trong hai năm qua. Ơn này cũng đã tác động mạnh mẽ vào tâm hồn con từ hơn bốn năm nay. Con không thể chống cưỡng lại được ơn thúc đẩy ấy, đàng khác con cũng rất sợ công cuộc này. Con sợ thánh giá, sợ thử thách và đau khổ. Hơn nữa, con chỉ xin phép tạm thôi, trong khi vẫn muốn giữ mối tương quan mật thiết với Dòng, lý do là vì con rất yêu mến Hội Dòng, và đó cũng là sự khôn ngoan tự nhiên, vì nếu thất bại, con còn có chỗ nương thân. Thưa cha, con nghiệm thấy, Chúa đòi con phải hi sinh hoàn toàn, phải thiêu hủy hoàn toàn “chiếc tàu”mà con muốn giữ lại để xử dụng. Con phải hủy bỏ hoàn toàn bản thân con cho ơn này. Mọi sự đã được quyết định. Con đã nhất quyết rồi.
- Vậy cha tính bỏ Dòng à?
- Thưa, vâng.
- Còn lời khấn của cha thì sao?
- Con xin cha tháo gỡ cho con để ít ra chúng ta vẫn còn giữ mãi được mối giây thân ái tốt đẹp.
- Tôi không thể làm như thế được.
- Vậy con sẽ xin phép Giám Mục.
- Nhưng Giám Mục không thể làm như vậy được.
- Con biết, các Giám Mục có thể tháo gỡ những lời khấn đơn. Khi ở Rô-ma, con được biết điều đó, và chính cha Cô-lanh (Colin) cũng khẳng định như vậy. Vì cha không muốn làm như thế, nên con xin tôn trọng ý kiến của cha; nhưng con đã quyết định đi theo đường lối này. Hoàn cảnh của con cưỡng bách con phải làm như vậy.
Rồi sau ít lời trao đổi, cha Pháp-vờ-rơ (Favre) đáp:
- Cha hãy suy nghĩ kỹ đi và hãy hết sức cẩn thận.
- Thưa cha, con đã cầu nguyện nhiều và từ lâu lắm rồi. Con đã xin Chúa, Đức Mẹ và Thánh Giu-se đừng để con lạc đường hay bị lừa dối. Con thà chết còn hơn. Nhưng con luôn cảm thấy phải dấn thân, con luôn cảm thấy thánh giá và đau khổ lôi kéo con trở thành phân bón cho cây này.
- Thôi được, vì đó là cảm nghiệm của cha và vì cha đã quyết tâm, tôi không muốn để cha phải bối rối hay cảm thấy bị bỏ rơi. Vậy tôi bằng lòng tháo gỡ lời khấn cho cha và quyết định này sẽ được viết thành văn bản. (14).
Để tránh những hiểu lầm ở trong Dòng, cha Pháp-vờ-rơ (Favre) đã gởi một Thơ Luân Lưu cho toàn thể Dòng Đức Mẹ. Bức thơ đề ngày 24 tháng 5, 1856, trong đó có đoạn:
“Nhân danh sự thật và vì bác ái, để tránh những thông tin sai lầm và những bình luận lệch lạc, tôi thấy cần phải nói với anh em rằng, cha E-ma đã phải đau khổ rất nhiều khi quyết định bỏ Dòng. Ngài không có một lý do nào khác ngoài khát vọng thực thi Ý Chúa. Để theo đuổi ơn kêu gọi mới, ngài đã xin và đã được mọi phép cần thiết. Ước chi ngài luôn làm cho Chúa Giê-su trong Bí Tích Tình Yêu được mọi người biết tới, mến yêu và tôn vinh. Chúng ta phải hết sức vui mừng vì công cuộc đó”.
Sau khi được giáo quyền chính thức nhìn nhận về tính cách xác thực của ơn kêu gọi mới và sau khi đã được tháo gỡ lời khấn trong Dòng Đức Mẹ, cha E-ma được hoàn toàn tự do để theo đuổi công cuộc mà Chúa kêu gọi và ủy thác cho ngài thực hiện.
2- KHAI SINH DÒNG MỚI
Hai vấn đề liên quan đến công cuộc khai sinh dòng mới là: trụ sở và phê chuẩn của Đấng Thường Quyền Địa Phương.
Để chọn nơi khai sinh cho Dòng Thánh Thể, trước hết cha E-ma nghĩ đến Tu-lông (Toulon), Mạc-xây (Marseille), Mông-tê-li-ma (Montélimar) thuộc giáo phận Va-lăng (Valence). Sở dĩ ngài nghĩ đến những nơi đó, vì tại những nơi này, không những ngài có nhiều người quen biết, nhưng nhất là vì tại những nơi này còn có nhiều phong trào thánh thể đang hoạt động rất mạnh. Cuối cùng, ngài nghĩ đến Pa-ri. Nhưng điều bất lợi ở Pa-ri là ít ai biết đến ngài. Trong khi ngài chưa quyết định dứt khoát thì một việc bất ngờ xẩy đến khiến cho viên đá đầu tiên và nền tảng của Dòng Thánh Thể đã được đặt xuống tại Pa-ri.
a- Trụ sở đầu tiên:
Trước khi rời Li-ông (Lyon) lên Pa-ri tĩnh tâm để chọn nơi đặt trụ sở đầu tiên, cha E-ma đã viết thơ cho Mẹ Đuy-bút-sê (Dubouché), bề trên của Cộng Đoàn Chầu Phạt Tạ, để xin ở trọ. Rủi ro, thơ bị thất lạc. Vì thế, ngày 30 tháng 4, 1858, khi cha E-ma đến gõ cửa tu viện Cộng Đoàn Chầu Phạt Tạ thì được trả lời là không có sẵn phòng cho ngài. Vì thế ngài phải đến trọ ở nhà các cha Dòng Thánh Tâm Đức Mẹ ở số 114 đường Ăng-phe (Enfer). Dòng này đang sắp bị giải thể.
Đang khi tĩnh tâm tại đây thì Dòng Thánh Tâm Đức Mẹ bị giải thể. Tu viện này thuộc quyền sở hữu của gia tộc Sa-tô-bờ-ri-ăng (Chateaubriand) của Đức Cha Ma-ri Đô-mi-nic Xi-bua (Marie Dominique Sibour), Tổng Giám Mục Pa-ri. Ban quản lý sẵn sàng cho cha E-ma mướn với giá tượng trưng. Cha E-ma liền nắm ngay cơ hội thuận tiện và mướn ngay tu viện ấy để làm chiếc nôi đầu tiên cho Dòng mới khai sinh.
Sau khi cùng với cha Đờ Qui-es (de Cuers) tận lực sửa sang lại, với những phương tiện hết sức eo hẹp, ngày 1 tháng 6, 1856, các cha Dòng Thánh Thể chính thức chiếm ngụ nơi này và biến nơi này thành Nhà Tiệc Ly tiên khởi của Dòng mới. Trong thơ gởi cho cô Mác-guơ-rit Ghi-ô (Marguerite Guillot), con thiêng liêng của cha E-ma, ngài viết: “Ngày mai, mồng 1 tháng 6, sau bữa ăn trưa, chúng tôi sẽ chiếm hữu Nhà Tiệc Ly mới với cuộc rước Mình Thánh. Cha sẽ đặt con dưới chân Chúa” (15).
b- Phê chuẩn của Đấng Bản Quyền.
Trong khi đang tĩnh tâm ở Pa-ri, cha E-ma hay tin Đức Cha Đờ Bui-ơ-ri (de Bouillerie), Giám Mục Các-ca-xôn (Carcassone), cũng đang có mặt ở Pa-ri. Cha E-ma và Đức Cha Đờ Bui-ơ-ri (de Bouillerie) rất thân nhau, vì cả hai đều có lòng nhiệt thành đối với những công cuộc thánh thể. Cha E-ma đến gặp Đức Cha để nhờ ngài giới thiệu với Đức Cha Lê-ông Xi-bua (Léon Sibour), Giám Mục Phụ Tá Pa-ri, đồng thời cũng là bà con với Đức Tổng Giám Mục Ma-ri Đô-mi-nic Xi-bua (Marie Dominique Sibour), Tổng Giám Mục Pa-ri. Người ta thường gọi Đức Cha Phụ Tá là Đức Cha Tờ-ri-pô-li (Tripoli), tên hiệu tòa của ngài.
Được sự giới thiệu của Đức Cha Đờ Bui-ơ-ri (de Bouillerie), cha E-ma liền đến gặp Đức Cha Tờ-ri-pô-li (Tripoli) trong các ngày mồng 5 và mồng 7 tháng 5, 1856, để xin phê chuẩn Dòng mới trong Địa Phận ngài. Đức Cha hết sức chăm chú lắng nghe cha E-ma và ngài xin một thời gian để suy nghĩ trước khi trả lời dứt khoát.
Ngày 13 tháng 5, 1856, thứ ba sau Lễ Hiện Xuống, khỏang 1 giờ 30 chiều, cha E-ma cùng với cha Đờ Qui-es (de Cuers) đến Tòa Tổng Giám Mục để được biết quyết định của Đức Cha Tờ-ri-pô-li (Tripoli). Trong khi hai cha đang chờ Đức Cha Phụ Tá ở phòng khách thì một sự việc bất ngờ xẩy đến. Chúng ta hãy nghe chính cha E-ma thuật lại:
“Đang khi chúng tôi ở trong phòng đợi, Đức Tổng Giám Mục, thường không bao giờ tiễn khách ra cửa. Nhưng hôm ấy, vì xã giao và để tôn trọng Đô Đốc Pác-xơ-van (Parceval), ngài đã tiễn chân ông ra cổng.
Khi trở vào, ngài thấy hai linh mục, liền hỏi:
- Các cha là ai?
- Thưa chúng con là khách ở xa tới.
- Hai cha có việc gì?
- Thưa, chúng con chờ Đức Cha Tờ-ri-pô-li (Tripoli).
Đức Tổng Giám Mục liền nói tiếp:
- Ngoại trừ việc riêng tư, còn có việc gì Đức Cha Phụ Tá làm được ở đây mà Đức Tổng Giám Mục lại không làm được sao? Vậy các cha cần gì?
Tôi liền đề cập ngay đến câu trả lời mà chúng tôi đang chờ đợi.
- Vậy cha là linh mục Dòng Đức Mẹ phải không?
- Dạ, thưa vâng.
- Đức Cha Tờ-ri-pô-li (Tripoli) đã cho tôi biết việc này,- Đức Tổng Giám Mục tiếp- Ô, không, không được, một Dòng hoàn toàn chiêm niệm. Không, tôi không chấp nhận.. không, không bao giờ!
Tôi thưa tiếp và nhấn mạnh:
- Thưa Đức Tổng Giám Mục, Đức Tổng Giám Mục hiểu lầm mục đích của Hội Dòng chúng con rồi. Hội Dòng của chúng con không hoàn toàn chiêm niệm. Quả thực, chúng con đặc biệt nhắm vào đời sống chiêm niệm và Chầu Chúa trong Thánh Thể, nhưng chúng con cũng cố gắng hoạt động để hướng dẫn người ta đến chầu Chúa nữa. Ngoài ra, chúng con còn nỗ lực để giúp và chuẩn bị cho những người lớn Rước Lễ Lần Đầu. Chúng con muốn thắp lên ngọn lửa khắp Nước Pháp, khởi đầu từ Pa-ri, nơi đang rất cần công cuộc này.
Vừa nghe những lời đó, gương mặt Đức Tổng Giám Mục bỗng tươi hẳn lên:
- Chuẩn bị cho người lớn Rước Lễ Lần Đầu ư? Đó là công cuộc còn đang thiếu. Đó là điều tôi đang mong ước!
Đức Tổng Giám Mục tỏ vẻ rất có thiện cảm” (16).
Sau đó Đức Tổng Giám Mục dẫn cha E-ma và cha Đờ Qui-es (de Cuers) vào phòng hội, nơi đây hai cha được gặp Đức Cha Tờ-ri-pô-li và cha Ca-ri-e (Carrière), Bề Trên Tổng Quyền của Tu Hội Xuân Bích. Đức Tổng Giám Mục không ngớt ca tụng công cuộc này, sau đó ngài phê chuẩn và cho phép cha E-ma được thực hiện công cuộc ấy trong địa phận ngài. Đức Tổng Giám Mục nói với cha E-ma: “Kể từ nay, chúng con là những con cái của cha”.
Hôm ấy là thứ bẩy, ngày 13 tháng 5, 1856, ngày đặc biệt dành để tôn kính Đức Mẹ. Cha E-ma xác tín rằng, sự việc ấy chắc chắn phải có sự can thiệp của bàn tay Đức Mẹ. Ngày 12 tháng 6, 1963, Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI đã phê chuẩn tước hiệu “Đức Mẹ Thánh Thể” mà cha thánh E-ma xưng tụng Đức Me. Đức Giáo Hoàng cũng đặt “Đức Mẹ Thánh Thể” làm bổn mạng của Dòng Thánh Thể và Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể, và ấn định lễ kính Đức Mẹ dưới tước hiệu này vào ngày 13 tháng 5. Truyền thống Dòng Thánh Thể coi ngày 13 tháng 5, 1856 là ngày khai sinh của Dòng.
Hôm sau, cha E-ma lại đến Tòa Tổng Giám Mục một lần nữa để tiếp tục bàn thêm về những chi tiết liên quan đến các lời khấn theo Giáo Luật. Đức Tổng Giám Mục mời Đức Cha Phụ Tá và Đức Cha Đờ Bui-ơ-ri (de Bouillerie) đến để cùng họp bàn. Cuối cùng Đức Tổng Giám Mục tuyên bố:
“Thánh Ý Thiên Chúa được biểu lộ quá rõ rệt đối với công cuộc thánh thể. Chính Thiên Chúa đã giải quyết vấn đề. Con hãy tận hiến đời sống con cho công cuộc này. Đừng chần chờ. Hãy xúc tiến ngay đi” (17).
Cha E-ma đã lưu trữ bức thơ viết tay của Đức Tổng Giám Mục, và ở cuối thơ ấy, ngài ghi thêm: “Ngày 13 tháng 5, 1856. DE QUO SEMPER GRATIARUM ACTIO ET LAUS (Nghĩa là: Nhờ ngài - ĐTGM Xi-bua (Sibour) - cảm tạ và chúc tụng Chúa đến muôn đời”.
Quyết định của Đức Tổng Giám Mục Xi-bua (Sibour) đã chính thức khai sinh cho Dòng mới. Được Đấng Thường Quyền địa phương phê chuẩn và khuyến khích, cha E-ma liền bắt tay ngay vào việc.
c- Khai mạc Giờ Chầu công khai
Cha E-ma quyết định chọn ngày Lễ Hiển Linh năm 1857 để chính thức ra mắt Dòng mới bằng giờ Chầu Mình Thánh long trọng và công khai. Ngày 13 tháng 12, 1856, cha E-ma viết cho cô Mác-guơ-rit Ghi-ô (Marguerite Guillot):
“Ngày 6 tháng Giêng, Lễ Ba Vua, ngày đầu tiên Chúa tỏ mình ra, chúng tôi sẽ long trọng đặt Mình Thánh lần đầu tiên. Ôi, ngày hạnh phúc biết bao! Ngày ước mơ từ bao lâu! Đối với cha, ngày hôm ấy, Chúa sẽ chiếm hữu gia đình Người và căn nhà của Người mãi mãi” (18).
Ngày 6 tháng Giêng, 1857, lúc 9 giờ sáng, Đức Cha Hác-mân (Hartmann), Đại Diện Tông Tòa ở Bom-bây (Bombay), Ấn Độ, hiện đang viếng thăm Pa-ri, đã cử hành Thánh Lễ. Sau đó, cha E-ma đặt Mình Thánh vào Mặt Nhật bằng bạc do ông Lơ-đờ vi (Leudeville) tặng, và từ 9 giờ đến 10 giờ sáng, cha E-ma chính thức khởi sự giờ chầu công khai của Dòng Thánh Thể.
3- ĐOẢN SẮC TÁN THƯỞNG
Cho tới thời điểm này, Dòng Thánh Thể mới chỉ được phép hoạt động ở Tổng Giáo Phận Pa-ri mà thôi. Muốn bành trướng rộng rãi hơn, cần phải có phép của Tòa Thánh. Vì thế cha E-ma nghĩ, đã đến lúc phải xin Tòa Thánh phê chuẩn dòng mới.
Để được Tòa Thánh châu phê, Dòng phải được giáo quyền địa phương giới thiệu và chứng nhận là có những hoạt động lợi ích cho Hội Thánh. Vì thế, trước khi lên đường đi Rô-ma, cha E-ma đã thu thập được một số thơ giới thiệu của các Đấng Bản Quyền sau đây:
- Đức Hồng Y Moóc-lô (Morlot), Tổng Giám Mục Pa-ri.
- Đức Hồng Y Đờ Bô-nan (de Bonald), Tổng Giám Mục Li-ông.
- Đức Cha Gi-nui-lác (Ginouilhac), Giám Mục Gờ-rơ-nốp (Grenoble).
- Đức Cha Đề-pê-ri (Depéry), Giám Mục Gap.
- Đức Cha Đờ-Ma-sơ-nô (de Mazenod), Giám Mục Mạc-xây (Marseille).
- Đức Cha Uy-ca (Wicart), Giám Mục La-van (Laval).
Cha E-ma rời Pa-ri ngày 3 tháng 12, 1858 và tới Rô-ma ngày 8 tháng 12, 1858 và ngày 20 tháng 12, 1858, ngài được vào triều yết Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX. Đức Giáo Hoàng hết sức niềm nở và âu yếm tiếp đón cha E-ma. Lúc từ biệt, ngài nói với cha E-ma: “Xin Chúa chúc lành cho Hội Dòng của con”. Rồi cầm tay cha, ngài nói: “Cha sẽ chúc lành cho công cuộc của con”.
Ngày 6 tháng Giêng, 1859, cha E-ma nhận được Đoản Sắc Tán Thưởng sau đây do chính Đức Giáo Hoàng ký:
“Pi-ô IX, Giáo Hoàng,
Gởi linh mục E-ma, con yêu quí, lời chào và phép lành Toà Thánh.
Ta vui mừng vì từ mấy năm nay, Ta đã nghe biết rằng con hằng nhiệt thành truyền bá và mở rộng lòng tôn sùng Nhiệm Tích Cực Thánh ở Nước Pháp. Mới đây, lại chính con đã đến trình bày cho Ta về công cuộc đó, cùng với những chứng từ của nhiều Giám Mục Pháp ca ngợi công cuộc con thực hiện. Xin Chúa mở lòng lân tuất khứng làm cho tất cả những nỗ lực về việc đó được tán thưởng cách quảng đại.
Con yêu dấu,
Trước khi con rời Rô-ma, Ta vui lòng ban phép lành Tòa Thánh, để tỏ lòng ưu ái của Ta đối với con và bảo đảm cho công cuộc mai sau của con”.
Làm tại Đền Thờ Thánh Phê-rô,
ngày 5 tháng 1, 1859
Năm thứ 13 Triều Đại Giáo Hoàng của Ta
Pi-ô IX
4- SẮC LỆNH CHÂU PHÊ DÒNG
Sau khi thành lập xong cộng đoàn Ăng-gie (Angers), giờ đây cha E-ma đã có đủ điều kiện đểå xin Tòa Thánh chính thức châu phê Hội Dòng và nâng Hội Dòng lên Dòng Giáo Hoàng. Sau đây là bản tóm tắt Sắc Lệnh Châu Phê Dòng:
“Năm 1856, linh mục Phê-rô E-ma, muốn thiết lập Dòng Các Linh Mục Thánh Thể, và cùng với nhiều người đồng chí hướng đã đến xin Tòa Thánh ban dụ tán thưởng cho dự án này.
- XÉT RẰNG: Dòng này đã tỏ ra có một sức sống mãnh liệt và bành trướng ở nhiều địa phận.
- XÉT RẰNG: Các Giám Mục địa phương đã công nhận hiệu quả thiêng liêng của Dòng đáng được Giáo Hội lưu ý.
-XÉT RẰNG: Các tu sỹ đều tuyên thệ sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, dưới quyền điều khiển của một Vị Tổng Quyền.
-XÉT RẰNG: Đơn xin do linh mục E-ma, người đã đến bệ kiến Đức Thánh Cha Pi-ô IX và khẩn nài Đức Thánh Cha châu phê Dòng này.
Ngày 8 tháng 5, 1863, Đức Thánh Cha đã khấng nhận lời xin của đương sự và chiếu theo các chứng thư của các Giám Mục kể trên, nay:
PHÊ CHUẨN VÀ ẤN ĐỊNH RẰNG:
Dòng các Linh Mục Thánh Thể được liệt vào hàng Dòng Tu có Lời Khấn Đơn, dưới sự điều khiển của một Tổng Quyền, theo luật chung của Hội Thánh và Hiến Chế Tòa Thánh. Hiến Pháp Tu Hội này sẽ được duyệt lại, tu chỉnh và chuẩn y sau.
Làm tại Rô-ma ngày 3 tháng 6 năm 1863
Tổng Trưởng Thánh Bộ Các Dòng Tu
Hồng Y Qua-gờ-li-a ( Quaglia)
Thơ ký: Stê-pha-nô Svê-gờ-li-a-ti
(Step. Svegliati)
5- PHÁT TRIỂN (19)
Năm 1865, cha E-ma viết tại Rô-ma: “Vì Chúa chúng ta muốn nhìn thấy ngọn lửa Thánh Thể này bừng lên khắp thế giới, nên không ai khác, chính tu sĩ Thánh Thể sẽ là những tác nhân lan truyền ngọn lửa ấy đến khắp nơi và làm cho mọi người nhận biết, yêu kính và tôn thờ Chúa chúng ta”.
Như những tia sáng phát ra từ ngọn lửa Thánh Thể, Dòng Thánh Thể từ ngày 13 tháng 5,1856 ấy đã dần dần lan rộng khắp 5 châu, và đây là những cột mốc chính :
- 1866 : Hiện diện tại Bờ-rút-xen (Brussels), Bỉ
- 1882 : Mở nhà tổng quyền tại Xan Cờ-lau-đi-ô (San Claudio), Rô-ma
- 1890 : Thiết lập cộng đoàn tại Mông-rê-an (Montreal), Ca-na-đa
- 1903 : Vươn tới vùng đất Châu Mỹ La Tinh, ban đầu là Bu-ê-nô- Gie (Buenos Aires), Ác-gen-ti-na (Argentina)
- 1910 : Đến với nước cộng hòa Chét (Czech) thuộc Đông Âu
- 1929 : Tiến sang thành phố Men-bân (Melbourn), nước Úc, thuộc lãnh thổ Châu Đại Dương
- 1946 : Hiện diện tại Mô-giăm-bích, châu Phi.
- 1953 : Mở cộng đoàn Thánh Thể tại Kít-tê-ga (Kitega), nước Bu-run-đi (Burundi), châu Phi
- 1953 : Xây dựng cộng đoàn đầu tiên ở Ha-va-na (Havana), nuớc Cuba, vùng Ca-ri-bê.
- 1955 : Có mặt tại Ma-ni-la, Phi-luật-tân (Philippines), Á Châu.
- 1956 : Đến với nước Ấn Độ, nước Xơ-ri-lan-ca (Srilanka)
- 1973 : Thiết lập cộng đoàn tại Việt Nam
Cho đến nay, Dòng Thánh Thể hiện diện tại các quốc gia: Pháp, Ý, Bỉ, Áo, Thuỵ Sĩ, Đức, Tây Ban Nha, Anh, Ái Nhĩ Lan, Xờ-côt-len, Hoà Lan, Hoa Kỳ, Ca-na-đa, Ac-gen-tin-na, Bơ-ra-gin (Brazin), Chi Lê, Cô-lôm-bi-a (Colombia), Pu-e-tô Ri-cô (Puerto Rico), Pê-ru, U-ra-guay, Úc, Ấn Độ, Phi-luật-tân, Xơ-ri-lan-ca (Srilanka), Việt Nam, Xê-nê-gan, Mô-giăm-bích, Giai-rô, Công-gô, U-gan- đa.
Trải qua giòng thời gian, bước theo Đấng Sáng Lập của mình và cùng đi với những nhận thức mới mẻ của Giáo Hội về Thánh Thể đã được đào sâu và làm phong phú tại công đồng Va-ti-ca-nô II, Dòng Thánh Thể đã từng bước thấu hiểu hơn sứ vụ của mình trong hiện tại và tương lai, thích nghi với đà tiến và những thay đổi, canh tân về thần học Thánh Thể và mục vụ.
Hiện nay, Dòng Thánh Thể nhỏ bé này vẫn đang tiếp tục kín múc sức sống từ trong “di sản phong phú của mình để” trở nên những nhân chứng đích thực cho quyền năng đổi mới của Thánh Thể đối với Giáo Hội và xã hội.
6- KẾT LUẬN
Qua tiến trình thành lập Dòng, Cha Thánh E-ma đã để lại cho chúng ta một tấm gương sáng chói gồm những nét đặc biệt sau đây:
a- Luôn lắng nghe tiếng Chúa.
b- Sẵn sàng hi sinh và tận hiến đời sống cho lời mời gọi của Chúa.
c- Luôn tuân phục Giáo Quyền là cơ quan chính thức và hữu hình được Chúa ủy thác để dẫn dắt Hội Thánh của Người nơi trần gian.
d- Luôn đặt trọn niềm tin tưởng phó thác nơi Chúa với sự xác tín rằng, nếu những thôi thúc và mời gọi dấn thân phát nguồn từ nơi Thiên Chúa, thì Ngài sẽ lo mọi phương tiện cần thiết để thực hiện chương trình của Ngài, còn con người thì chỉ là dụng cụ Chúa dùng để thực thi thánh ý Ngài mà thôi.
_______________________________________________
(1)- Luật Sống, #1.
(2)- Luật Sống, #1.
(3)- Tĩnh Tâm tại Saint Maurice, Ngày 28 tháng 4, 1868, Suy Niệm 3.
(4)- Tĩnh Tâm ở Rôma ngày 1 tháng 2, 1865, Suy Niệm 1.
(5)- Chứng từ của ông Arnaud trong án phong thánh cho cha E-ma.
(6)- Ngày 5 tháng 5, 1864.
(7)- Tĩnh tâm tại Grenoble, Ngày 8 tháng 9, 1837.
(8)- Appss, Rome.0.4 tr.62. Cave. Chữ ký bằng máu của cha Eymard ở trang 66 của bút tích.
(9)- Tĩnh Tâm tại Saint-Maurice, ngày 28 tháng 4, 1868.
(10)- Thơ gởi bà Tholin Bost, ngày 23 tháng 6, 1853. Letters, t. 4, tr. 131-132.
(11)- G. Troussier, tr.482.
(12)- Troussier, tr.484.
(13)- Thơ của cha Touche gởi cha Eymard, ngày 27 tháng 8, 1855.
(14)- Thơ của cha Eymard gởi cha de Cuers, ngày 22 tháng 4, 1856. Letters, tr.15-20.
(15)- Thơ gởi Marguerite Guillot, ngày 31 tháng 5, 1856. Letters. tr.157.
(16)- Troussier, tr.552-553.
(17)- Troussier, tr.557.
(18)- Thơ gởi Marguerite Guillot, 13 tháng Giêng, 1856. Letters. tr.182.
(19)- Phần này do cha Phạm Đình Ái, SSS, nghiên cứu.