HƯỚNG ĐẾN SỰ PHỤC HỒI CHIỀU KÍCH
CÁNH CHUNG CỦA PHÉP THÁNH THỂ
Phaolô Vũ Chí Hỷ SSS
Tóm lược: Bài này đề cao tính cách cánh chung của phép Thánh Thể. Trong khi mừng tương lai đã hiện diện nơi Giáo hội, chiều kích này tạo ra nền tảng cho hoạt động Kitô Giáo đầy niềm cậy trông, bằng cách kích thích một tầm nhìn giải thoát của các khả năng biến đổi cho đời sống xã hội con người. Hồng ân thiên linh được cử hành trong bí tích Thánh Thể bao gồm lịch sử và tiến trình vũ trụ, mà Chúa Thánh Thần hoạt động trong đó. Vì vậy, đỉnh cao và nguồn sống của Giáo hội là sự nếm hưởng trước sự sống sẽ đến.
1. Dẫn Nhập:
Trong những năm gần đây, sự hiểu biết của Kitô giáo về bí tích Thánh Thể đã phong phú một cách đặc biệt, với sự tái khám phá chiều kích cánh chung của việc tưởng nhớ sự chết và sống lại của Đức Kitô. Chúng ta sẽ suy nghĩ một nét chính yếu của ý nghĩa về sự đánh giá sức mạnh hình thức (formative power : sức hình thành, khuôn đúc) của việc cử hành Thánh Thể trong đời sống Kitô hữu, cũng như tầm quan trọng đại kết, xã hội, chính trị và đạo đức của nó. Thật ra, việc hướng về chiều kích cánh chung của bí tích Thánh Thể là một yếu tố mạnh mẽ trong cảm nghiệm của cộng đồng Kitô hữu thời sơ khai. Tân ước làm chứng về cảm nghiệm này với một loạt biến cố bữa ăn trong cuộc đời sứ vụ của Đức Giêsu, mô tả các cảm nghiệm này như “việc ăn uống trong Nước Chúa” (Eugene Laverdiere, Dining in the Kingdom of God, 1994, trang 24). Ăn bánh và uống rượu trong phép Thánh Thể là để tướng nhớ Đức Kitô; là để dự báo Đức Kitô, và là để tham dự vào sự viên mãn tương lai của mọi mục tiêu của Chúa.
Như thế, phép Thánh Thể được cử hành trong bối cảnh sự sống lại của Đức Kitô và sự đổi mới tận gốc mọi sự, và nước Chúa sẽ đến. Cần nhắc lại rằng, các tín hữu thời sơ khai đã xác tín về sức mạnh của Chúa qua sự sống lại của Đức Kitô và việc sai Chúa Thánh Thần đến trong lễ Ngũ Tuần, đến nỗi họ mong ước Chúa sẽ quang lâm ngay khi họ còn sống. Trong thư gửi tín hữu Côrintô, thánh PhaoLô xem bí tích Thánh Thể như là bí tích của Eschaton (Cánh chung), trong đó cộng đoàn Kitô hữu rất hy vọng và mong mỏi Chúa Kitô quang lâm: “Mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em đã loan truyền Chúa đã chịu chết cho đến khi Ngài lại đến” (1 Cr 11:26). Dường như vì niềm hy vọng cánh chung mà các tín hữu thời sơ khai tiếp tục “chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (CV 2:42). Như thế người ta đã có ý thức về phép Thánh Thể như sự tạ ơn về công cuộc cứu chuộc trong Đức Kitô, và sự cử hành chúc tụng Chúa, Đấng đã làm cho các tín hữu xứng đáng báo trước sự hiệp nhất tương lai của Nước Chúa.
Ý nghĩa cánh chung của việc thờ phượng Kitô giáo cũng được phản ánh trong hành động qui tụ nhau cho việc chia sẻ Thánh Thể ngày chủ nhật. Sự liên kết của lễ vượt qua và Bữa tiệc ly là lý do chính yếu để các tín hữu thời sơ khai cử hành phép Thánh Thể ngày chủ nhật, đó là ngày đầu tiên (có lẽ nên dịch : ngày thứ nhất trong tuần), ngày Chúa sống lại. Với ý nghĩa rằng, trong phép Thánh Thể, hành vi cứu độ của Chúa đã được thể hiện trong Đức Kitô, và qua cuộc vượt qua từ sự chết đến sự sống, cộng đoàn Kitô hữu có thể chia sẻ vào sự sống của Đấng sống lại. Các Kitô hữu thời sơ khai hướng nhìn về sự viên mãn cánh chung của Nước Chúa, như chúng ta đọc trong sách Didache: “Như chiếc bánh bẻ ra được tung tóe (có lẽ nên dịch : tản mác, hay phân tán) trên các núi đồi và rồi qui tụ nhau lại, và trở nên một, xin cho Giáo hội được qui tụ lại từ mọi nơi trên trái đất vào Nước Chúa” (Daniel J. Sheerin, The Eucharist, 1986, 352). Sau tài liệu quan trọng này là đến sự hiển nhiên của (later in this remarquable document… : tài liệu quan trọng này sau đó đã minh nhiên đề cập đến) việc dùng từ ngữ maranatha trong phụng vụ, đó là một lời kinh cánh chung: “Xin ân sủng đến và thế giới này sẽ qua đi! Hoan hô Chúa của Đavít; Amen, lạy Chúa Giêsu xin ngự đến” (Như trên, trang 353-354). Như vậy, niềm hy vọng cánh chung cho việc Đức Kitô quang lâm có liên quan chặt chẽ với cảm nghiệm về Đức Kitô được gặp gỡ trong phép Thánh Thể.
Ngày nay, vấn đề nổi lên (đặt ra) là liệu có cần (possible and desirable : có thể và nên) phục hồi chiều kích cánh chung của Phép Thánh Thể hay không. Trong ngàn năm thứ ba của lịch sử Kitô giáo, làm thế nào đánh giá đầy đủ hơn phép Thánh Thể như một bí tích, mà trong đó “Đức Kitô hiện diện như là bánh và rượu của niềm cậy trông” (Kelly, the Bread of God: Nurturing a Eucharistic Imagination, 83) và phép Thánh Thể được cử hành như sự tiên báo đầy đủ hơn về bữa tiệc thiên quốc? Làm thế nào việc cử hành Thánh Thể liên kết cánh chung với các hàm ý thực tiễn như đường lối cho chúng ta sống trong hiện tại và tương lai? Làm thế nào lối tiếp cận cánh chung với phép Thánh Thể trở nên nguồn phong phú cho sự phản ánh (reflection : suy tư ?) về mọi khía cạnh của đức cậy Kitô giáo, vốn là cận kề, siêu việt, tiên tri và nhiệm mầu? (immannent and transcendent, prophetic and apocalyptic : vốn mang các chiều kích nội tại và siêu việt, tiên tri và khải huyền)
Sự tương quan của phép Thánh Thể và cánh chung là một lĩnh vực quan trọng và lý thú. Tuy nhiên chỉ có suy tư thần học trong thế kỷ 20 mới làm chứng cho điều gì đó của “sự tái sinh tính cánh chung trong thần học Kitô giáo” (Lane, the New Dictionary of Theology, 329). Chiều kích cánh chung của phép Thánh Thể mờ nhạt ở phần nền (faded into the background : tạm dịch đơn giản là mờ nhạt đi), nhưng không bao giờ biến mất hẳn. Nhờ gốc rễ sâu trong Tân ước và văn chương của các giáo phụ, chúng ta thấy có sự nhắc đến phép Thánh Thể như “sự hứa hẹn (pledge : bảo chứng) của vinh quang đời sau và hạnh phúc muôn đời” trong sắc lệnh về bí tích Thánh Thể của công đồng chung Trento. Thánh Thomas Aquinas cũng mô tả phép Thánh Thể như một signum pronosticum, một dấu chỉ nhắc nhở lại một biến cố đã qua, cuộc thương khó của Đức Kitô, nói lên tác động của cuộc khổ nạn của Đức Kitô nơi chúng ta, đó là ân sủng, báo trước vinh quang Chúa sẽ đến” (trong Lane, Keeping Hope Alive: Stirrings in Christian Theology, 207-208). Như vậy, tại sao sự mất đi của ý nghĩa cánh chung nơi phép Thánh Thể lại chỉ được phục hồi trong những năm gần đây? Nhìn lại quá khứ, thần học truyền thống về phép Thánh Thể, không kể đến (forgetful : vì lãng quên) bối cảnh Kinh Thánh về tính cánh chung trong đó phép Thánh Thể được cử hành, đã trong một thời gian dài hầu như tập trung sự chú ý vào các giáo lý về hy tế và sự hiện diện trong phép Thánh Thể, mà bỏ qua chiều kích cánh chung.
Do đó, đề tài cánh chung dường như trở thành một phụ lục của thần học, và vì vậy không có chức năng là ánh sáng soi chiếu các thực tại khác của đức tin Kitô giáo. Cánh chung thường được xem như sự học hỏi về Bốn sự sau, đó là sự chết, phán xét chung, thiên đàng và hỏa ngục. Việc nhấn mạnh về cánh chung tập chú vào số phận đời đời của mỗi cá nhân và sự tận cùng của lịch sử, hơn là chú ý đến niềm hy vọng cho sự hoàn tất các mục đích của Chúa đối với toàn vạn vật, đến sự hoàn tất của tác động sáng tạo và cứu độ của Chúa trong Đức Kitô và Chúa Thánh linh, nghĩa là đến nước Chúa trị đến trong sự viên mãn cánh chung.
Tuy nhiên, mới đây, cùng với sự nổi lên của Nước Chúa như một đề tài nghiên cứu và thảo luận sâu sắc, một sự quan tâm mới về các hàm ý cánh chung của phép Thánh Thể cũng đã bắt đầu và được tiếp tục nghiên cứu. Với một cái nhìn Kinh thánh hơn và toàn diện hơn, thần học của công đồng chung Vatican II xem cánh chung như là một chiều kích trong mọi khía cạnh của cuộc đời và suy tư Kitô hữu, nhắm đến mầu nhiệm phục sinh như thể loại mục tiêu (focal category : như tiêu điểm hay phạm trù chính) để hiểu được ý nghĩa cánh chung của phép Thánh Thể.
Hiến chế Lumen gentium tuyên xưng phép Thánh Thể là “nguồn mạch và tuyệt đỉnh của đời sống Kitô giáo” (11). Điều này dẫn đến việc canh tân phụng vụ Thánh Thể và thần học Thánh Thể, trong đó có sự phục hồi bản chất cánh chung, qua đó phép Thánh Thể tiên báo “bữa tiệc cánh chung trong Nước Cha, công bố sự chết của Chúa cho đến khi Ngài lại đến” (Eucharisticum Mysterium, 3). Đoàn người lữ hành được mô tả là cần được nuôi dưỡng bởi Mình và Máu Chúa Kitô, khi họ đi trên chặng đường trần thế để “đáng được vào dự tiệc cưới và được vào số những người được Chúa chúc phúc” (Lumen Gentium 48). Như vậy, phép Thánh Thể đưa ra một cảm thức hướng dẫn cho nhân loại, tác động niềm cậy trông ngay ở thời hiện tại này.
Và được tràn đầy đức cậy, như Sacrosanctum Concilium cũng nói rõ, các Kitô hữu cử hành phép Thánh Thể như “một bí tích tình yêu, biểu hiện hợp nhất, dây liên kết bác ái, bữa tiệc vượt qua, trong đó khi lãnh nhận Chúa Kitô, tâm hồn ta được tràn đầy ơn phúc, và đồng thời cũng được bảo đảm cho vinh quang đời sau” (Sacrosanctum Concilium, 47). Trong đường hướng này của đức cậy Kitô giáo, đoạn đầu của Hiến chế Gaudium et Spes đề cao sự thay đổi của Giáo hội về việc hiểu vị trí của lịch sử: “Nỗi vui mừng và niềm hy vọng, những buồn khổ và mối lo âu của con người hôm nay, cánh riêng của người nghèo và của tất cả những ai đang đau khổ, đó cũng là sự vui mừng hy vọng, đau buồn và lo âu của các môn đệ Chúa Kitô: không có gì liên quan đến nhân loại mà không có tiếng vang trong cõi lòng các tín hữu Chúa Kitô” (1) (nên xử dụng bản dịch của GHHV thì tốt hơn). Như thế cộng đồng Kitô hữu được mời gọi hợp tác với Đức Kitô qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, để cho thế giới cũng được đưa vào sự viên mãn. Gaudium et spes khẳng định thêm: “Chúa để lại cho các môn đệ một bảo chứng cho niềm hy vọng đó, và là của ăn đường qua nhiệm tích Thánh Thể, ở đó mọi yếu tố của vũ trụ do con người khai thác, được biến đổi thành Mình và Máu vinh hiển là bữa ăn hiệp nhất huynh đệ, và nếm trước bữa tiệc thiên quốc mai sau” (38) (nên xem lại bản dịch GHHV)
Như thế phép Thánh Thể là biểu tượng của việc hình thành sau cùng (final realization : hoàn tất hay viên thành) của Nước Trời cánh chung. Làm việc và chờ đợi trong niềm hy vọng vui mừng Nước Trời tương lai là mong ước rằng “Chúng con sẽ ca hát vinh quang Chúa trong mọi tạo vật”(Kinh nguyện Thánh thể 3), theo cách nói của Kinh nguyện Thánh Thể, và hiệp nhất với Chúa, Đấng gửi Thánh Thần “như ân ban đầu tiên cho những kẻ tin, hoàn tất công việc của Chúa ở trần gian và đem cho chúng con sự viên mãn của cứu độ” (Kinh nguyện Thánh thể 4) (nên theo bản văn phụng vụ). Sự biến đổi Thánh Thể có tính cánh chung, hàm chứa mọi yếu tố của thiên nhiên và văn hóa, liên quan đến toàn thế giới tạo thành. Để đào sâu ý nghĩa của tính cánh chung, sách Giáo lý của Giáo hội công giáo cũng nhắc đến phép Thánh Thể như là “sự báo trước của vinh quang trời cao” và là “dấu chỉ niềm cậy trông trong Trời mới và đất mới” (Giáo lý chung của Giáo hội, 1402, 1405). Qua phép Thánh Thể, toàn thể vũ trụ báo trước sự viên mãn (participates its own consummation : thông dự trước vào sự hoàn tất của chính mình)
Là bí tích của đức cậy, phép Thánh Thể là dấu hiệu thánh thiêng về tầm quan trọng sống còn (sacred symbol of vital importance, có lẽ nên dịch là : biểu tượng thánh thiêng mang tầm quan trọng sống còn hay quyết định) cho cộng đồng Kitô hữu và cho thế giới hôm nay. Phép Thánh Thể là dấu hiệu của nước Chúa đang đến và của sự biến đổi mọi sự như đã được hứa. Phép Thánh Thể hướng về tương lai trong hy vọng và tin rằng Chúa Kitô chết và phục sinh tạo ra sự khác biệt rõ ràng và sẽ đem tạo vật đến viên mãn. Như chúng ta đọc trong Tông thư mới đây nhất của ĐGH Gioan Phaolô II, Ecclesia de Eucharistica:
“Phép Thánh Thể là hướng về mục tiêu, là sự nếm hưởng niềm vui trọn vẹn mà Chúa Kitô đã hứa (xem Ga 15:11); đó là sự báo trước Nước Trời, lời “nguyện hứa cho vinh quang đời sau”. Trong phép Thánh Thể, mọi sự nói về sự chờ đợi tin tưởng “trong niềm hy vọng hân hoan cho việc Chúa chúng ta, Đức Giêsu Kitô, sẽ đến”. Những ai được Chúa Kitô nuôi dưỡng trong phép Thánh Thể không cần chờ cho đến đời sau để nhận sự sống đời đời: họ có sự sống ấy ngay ở thế gian này, như hoa quả đầu mùa của sự viên mãn tương lai, vốn sẽ bao trùm cả nhân loại. Do đó, trong phép Thánh Thể, chúng ta cũng nhận được lời hứa là thân xác chúng ta sẽ sống lại vào ngày sau hết: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6:54). Lời hứa cho sống lại này phát sinh từ sự việc là thịt của Con Người, được ban làm của ăn, là thân xác ngài trong trạng thái vinh quang sau khi Ngài sống lại. Với phép Thánh Thể, chúng ta hiểu thấu, như đã xảy ra, bí mật của sự sống lại” (18) (nên tìm bản dịch chính thức)
Là bí tích của Nước Trời, đã hình thành nhưng chưa trọn vẹn, phép Thánh Thể có bản chất cánh chung đặc biệt. Điều cộng đồng Kitô hữu cử hành trên trần gian này là sự tham dự vào bàn tiệc muôn đời, nghĩa là, sự quy tụ chung cuộc của mọi thế hệ trên núi thánh của Chúa (Is 25:6; Do Thái 12:18; 22:24; Mt 22:2-14; Ga 6:51,54). Câu tung hô trong phụng vụ, “Chúa Kitô sẽ quang lâm” hoặc “chúng con đợi chờ ngày Chúa quang lâm” và câu đáp sau Kinh lạy Cha “Vì nước Chúa, quyền lực và vinh quang đều thuộc về Chúa, bây giờ và đến muôn đời”, diễn tả lực đẩy cánh chung của việc cử hành Thánh Thể. Quả thực phép Thánh Thể là cái nhìn lướt qua (glimpse ở đây có lẽ nên dịch là phản ánh hoặc phần nào biểu hiện) của bữa tiệc cánh chung. “Đó là tia sáng vinh quang của thành Giêrusalem trên trời, tia sáng phá vỡ các đám mây của lịch sử chúng ta và soi sáng hành trình của chúng ta” (Ecclesia de Eucharistica 19). Như vậy trong khi cử hành phép Thánh Thể, toàn thể cuộc sống Kitô hữu đều được diễn tả đúng lúc (in time chứ không phải on time ! vì thế nên dịch thoát là : qua các chiều kích của thời gian : memory, experience hope) – tưởng niệm sự chết của Đức Kitô, cảm nghiệm về quyền năng sống lại của Ngài trong hiện tại, và hy vọng vui mừng cho nước Chúa trị đến.
Việc hiểu chiều kích cánh chung của phép Thánh Thể như thế không chỉ dẫn cộng đồng Kitô hữu đến sự mong chờ “Trời mới và đất mới” (Khải huyền 21:1), mà còn gia tăng cảm thức trách nhiệm cho (đối với) thế giới. Ở đây phép Thánh Thể báo trước niềm vui sẽ đến của Nước Chúa công bằng, bình an và tự do. Một lần nữa, Ecclesia de Eucharistica nói rõ ý hướng này:
“Nhiều vấn đề làm mờ chân Trời của thời đại chúng ta. Chúng ta cần suy nghĩ về nhu cầu bức thiết là hoạt động cho hòa bình, đặt nền tảng mối quan hệ giữa người và người trên các kết quả vững chắc của công lý và tình liên đới, và bảo vệ sự sống con người từ lúc mới thụ thai, cho đến khi chết... Tuyên xưng cái chết của Chúa “cho đến khi Ngài lại đến” (1 Cr 11:26) có nghĩa là những ai tham dự phép Thánh Thể phải cam kết thay đổi lối sống của mình và biến nó trở nên “Thánh Thể” trọn vẹn. Đây là hoa trái của cuộc sống biến đổi và sự cam kết biến đổi thế giới phù hợp với Tin Mừng, vốn minh họa tuyệt vời chiều kích cánh chung hàm chứa trong sự cử hành phép Thánh Thể và trong cuộc sống Kitô hữu, như một tổng thể: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến” (Kh 22:20) (Ecclesia de Eucharistica 20). (nên tìm bản dịch chính thức)
Khi cử hành sự tưởng niệm mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô, phép Thánh Thể thể hiện tính chất cánh chung của niềm cậy trông cho thế giới toàn bộ. Khi Kitô hữu cử hành niềm cậy trông bằng cách này, Tony Kelly nói rằng “họ không đi vào sự suy gẫm riêng tư, hoặc không gặp gỡ để thảo luận triết lý về sự sống mai sau. Nhưng họ ăn uống, nếm, hít thở và chia sẻ sự hiện diện thật sự của tương lai mà Chúa đã chuẩn bị cho họ trong Đức Kitô” (Kelly, the Bread of God: Nurturing a Eucharistic Imagination, 82). Trong một chiều kích phục sinh rõ ràng như vậy, phép Thánh Thể cử hành thái độ hy vọng của con người và “sự vượt qua của thế giới để đi vào thụ tạo (creation : tạo thành) mới” (Kelly, Touching of the Infinite: Explorations in Christian Hope, 1991,138). Như thế, là dấu hiệu (dấu chỉ) của việc thể hiện trong tương lai, phép Thánh Thể là trung tâm và nền tảng cho bất cứ sự thảo luận nào về niềm cậy trông. Phép Thánh Thể vừa là một tiếng nói hy vọng vừa là sự tham dự vào bàn tiệc cánh chung của Nước Chúa, để dẫn đưa cả thế giới đi vào tương lai. Qua việc đưa sự tưởng niệm quá khứ và sự dự báo cho tương lai đi vào hiện tại, phép Thánh Thể quy tụ tất cả những gì Chúa Kitô đã sắp đặt vào Nước Chúa đang đến (có lẽ nên dịch thoát là : tất cả những gì Chúa Kitô muốn thực hiện, nghĩa là, cho Nước Chúa trị đến). Phép Thánh Thể đưa cộng đồng Kitô hữu tiếp xúc với vinh quang mai sau, đưa ý nghĩa cậy trông vào số phận sau cùng của nhân loại (đem lại ý nghĩa hy vọng cho số phận tối hậu của nhân loại), và toàn vũ trụ, trong khi hướng dòng lịch sử về sự viên mãn tuyệt đối.
Mục đích của bài viết này là nhằm khám phá nhu cầu và giá trị của sự phục hồi tính chất cánh chung của phép Thánh Thể. Dường như toàn bộ dự án tiếp cận tương quan của phép Thánh Thể với tính cách cánh chung được dùng làm sự dẫn nhập hữu ích và thích hợp cho đường hướng mà thần học về Thánh Thể đang hướng đến, trong khi Giáo hội tiếp cận các lĩnh vực văn hóa, chính trị xã hội và thần học mới. Như được diễn tả trong Kinh nguyện Thánh Thể, sự cánh chung tràn ngập (có lẽ nên dịch thoát là : chiều kích cánh chung thấm nhập tất cả) việc cử hành phụng vụ như một sự báo trước (nên thêm : dưới hình thái) bí tích về vinh quang tương lai, đó là niềm cậy trông kiên định của cộng đồng Kitô hữu. Nói theo Alexander Schmemann, phép Thánh Thể là “việc Giáo hội thăng thiên đến một nơi mình lệ thuộc vào trong Statu Patriae (tình trạng quê hương). Trong khi tìm kiếm một sự trình bày đầy đủ về phép Thánh Thể như bí tích của đức cậy Kitô giáo, chúng ta cố gắng nêu ra một sự tổng hợp toàn diện và chặt chẽ về phép Thánh Thể và sự cánh chung, và vạch ra các đường hướng để nghiên cứu thêm nhằm làm phong phú hóa tính chất cánh chung của phép Thánh Thể (Eucharistic eschatology : cánh chung học mang chiều kích Thánh Thể). Chúng ta sẽ nhận định bốn nét có ý nghĩa của nghiên cứu này, vốn chú trọng đến sự phục hồi xây dựng của chiều kích cánh chung nơi phép Thánh Thể: (1) hình thức của niềm cậy trông Thánh Thể như sự hiệp thông cánh chung; (2) phép Thánh Thể như là nguồn hoạt động đầy cậy trông cho sự giải thoát; (3) phép Thánh Thể như là quà tặng cánh chung của Chúa trong Đức Kitô; và (4) việc cử hành phụng vụ của phép Thánh Thể như là cảnh vực thần linh của Chúa Ba Ngôi.
2. 2. Hình thức của niềm cậy trông Thánh Thể như sự hiệp thông cánh chung: “Chúa là tất cả trong mọi sự”.
Việc nhìn nhận rằng đức cậy vừa là phần quan trọng của cuộc sống con người vừa là yếu tố cơ bản của đức tin Kitô giáo có thể giúp tái tạo tương quan giữa phép Thánh Thể và cánh chung. Như vậy một số câu hỏi sẽ đi vào khía cạnh nhân loại học của đức cậy: Phép Thánh Thể là gì trong tương quan với một sự hiểu biết để trở nên con người hơn trong mọi cuộc đấu tranh để sống, yêu thương và sự thật? (đấu tranh cho sự sống, tình yêu và sự thật) Bí tích cứu độ này hướng cách nào ra ngoài sự phòng thủ và cô lập của chủ nghĩa cá nhân, và sư nguy hiểm của chủ nghĩa nhị nguyên trong việc thực hiện sự đoàn kết đích thực giữa người sống và người chết, giữa cá nhân và cộng đoàn, giữa nhân loại và vũ trụ? Phép Thánh Thể có chứa đựng lời hứa cuộc sống mới cho mọi thụ tạo trong nhân tính mới của Đức Kitô không?
Phép Thánh Thể là sự cử hành của cuộc sống chia sẻ và vận mạng của nhân loại và vạn vật. Phép Thánh Thể thể hiện mầu nhiệm của sự tương thuộc của ơn cứu độ cá nhân, liên vị, Giáo hội và vũ trụ. Trong đường lối cơ bản (có thể dịch thoát : theo nghĩa cơ bản), phép Thánh Thể là một dấu chỉ và một nguồn hữu hiệu của “sự hiệp thông thánh thiện”; những ai đến cử hành phép Thánh Thể là luôn bám mạnh vào cộng đoàn (deeply inserted into community : luôn được tháp nhập sâu xa vào trong cộng đoàn). Trong phép Thánh Thể, nhiều người trở nên một thân thể của Đức Kitô (1Cr 10:17), đến nỗi Chúa Kitô đưa họ vào Ngài, trở nên một thân xác của thụ tạo mới. Dự phần vào bí tích cánh chung này có nghĩa là được tháp nhập vào thân mình của Đức Kitô và được biến đổi vào toàn thể các mối quan hệ Giáo hội (trong toàn bộ các tương quan mang chiều kích giáo hội). Sự tập chú vào phép Thánh Thể, như là một biến cố của sự hiệp thông cánh chung, cung cấp một điểm dẫn nhập đầy ý nghĩa vào nhân loại học đổi mới (anthropology : cho một nhân học mới mẻ), nơi mà đức cậy Kitô giáo được đưa vào đối thoại với những sự tìm kiếm hiện đại cho vài khía cạnh quan trọng của kiếp làm người. (những tìm kiếm hiện đại về một số khía cạnh quan yếu của hữu thể nhân linh)
2.1 2.1 Chiều kích cá nhân (personal dimension : chiều kích chủ vị, còn cá nhân là individual) của hiệp thông cánh chung:
Nét đầu tiên trong nhân loại học(anthopology : nhân học) Thánh Thể đổi mới nổi dậy từ ý thức về con người như một cá nhân (personal : chủ vị hay ngôi vị). Cá nhân được định nghĩa là một chủ thể con người (Ngôi vị có thể định nghĩa như một chủ thể nhân linh), một trung tâm cá nhân về ý thức (một trung tâm ý thức mang tính cá vị), một con người (person : chủ vị) có ý hướng tính và sống trong lịch sử (historical : mang sử tính hay chiều kích lịch sử), có những đặc điểm riêng tư và tiểu sử riêng, một lý lịch cá nhân (individual identity : căn tính riêng), một người biết người khác và được người khác biết đến, biết yêu và được yêu, hiện hữu như một thực tại tự do, duy nhất và không thể thay thế. Như thế, một con người (human person : ở đây nên dịch rõ là chủ thể nhân linh) không chỉ là một con người có thân xác, nhưng một người là thân xác của mình (có thể dịch thoát là : không chỉ là kẻ có thân xác, mà còn là thân xác). Khái niệm cá nhân này có một hấp lực với điều chúng ta nhấn mạnh về chủ thể người là một thực tại hiện thân từ đầu đến cuối (Có thể dịch : Khái niệm chủ thể theo nghĩa này rất gần với quan niệm về chủ thể nhân linh mà chúng tôi nhấn mạnh, nghĩa là một thực tại hoàn toàn là nhập thể, từ đầu đến cuối).
Tư tưởng này bàn đến vấn đề triết học truyền thống và thần học truyền thống (Có thể dịch : Quan niệm này đối lập lại với quan niệm của triết học và thần học truyền thống) vốn đưa ra định nghĩa con người như một “sự tổng hợp” (composition : phức hợp gồm) thân xác và linh hồn, và quan niệm đó đã trở thành hình thức cổ điển của thuyết nhị nguyên, trong đó linh hồn được xem như nguyên lý siêu vật (siêu việt), thường hằng, không thể hư mất (bất hoại), còn thân xác là ngược lại hoàn toàn. Ở đây, hình thức nhân loại học đổi mới của đức cậy Thánh Thể đi ngược lại quan niệm truyền thống về chủ thể người (có thể dịch thoát : ở đây, ý nghĩa nhân học mới mẻ của niềm hy vọng Thánh Thể đối nghịch lại quan niệm truyền thống về chủ thể nhân linh). Nó xem con người vừa là tinh thần hiện thân và thân xác tinh thần hóa cùng một lúc (con người được hiểu vừa là tinh thần nhập thể, đồng thời là thể xác được tinh thần linh hoạt). Thân xác, nói theo Dermot A.Lane, là “chìa khóa cho cá nhân”(the key to the personal : chìa khoá mở ra chiều kích chủ vị) và chúng ta có thể hiểu rằng “một sự hiểu biết thân xác rõ hơn giúp ta hiểu sâu hơn tinh thần của con người” (Lane, Keeping Hope Alive: Stirrings in Christian Theology, 36). Một tư tưởng tương tự xuất hiện trong tác phẩm của Gustave Martelet, khi ông cho rằng thân xác là “một hành vi diễn tả cá nhân đầy đủ” (một hành vi diễn tả hoàn toàn mang tính chủ vị) (Gustave Martelet, The Risen Christ and the Eucharistic World, 1976, 42) trong một cộng đồng các thụ tạo. Louis-Marie Chauvet diễn tả điều này thật khéo, khi nói rằng thân xác là “nơi đầu tiên của sự kết hợp cái bên trong và cái bên ngoài... là cách thức để chứa điều khác lạ của thế giới, như là một ngôi nhà, một nơi cư ngụ quen thuộc” (có thể dịch thoát : không gian nguyên thuỷ của mọi nối kết mang tính biểu tượng giữa nội giới và ngoại giới… là cách thức cư ngụ riêng của con người để thế giới xa lạ trở thành nơi chốn thân quen, như là nhà của mình) (Symbol and Sacrament, 1995, 47). Như thế con người xuất hiện như sự tự ý thức hiện thân (chủ thể nhân linh xuất hiện như một tự thức nhập thể), và hiện hữu thể lý trong thế giới, như là một con người trọn vẹn trong quan hệ với Chúa và với tha nhân.
Chiêm ngắm con người theo cách thức phi nhị nguyên này lôi kéo sự chú ý đến niềm hy vọng cánh chung cho sự hoàn tất cuộc sống trong sự sống lại. Đức cậy Kitô giáo là rõ ràng trong sự quy chiếu bao hàm về yêu cầu hoàn thành và đầy đủ trọn vẹn; nó liên quan (liên hệ đến) cá nhân trong cộng đồng, vật chất và tinh thần. Trong khi đức cậy Kitô giáo hướng về chiến thắng cuối cùng của Chúa trên tội lỗi, sự dữ, đau khổ và sự chết, là một niềm hy vọng đầy đủ, nó không loại trừ chiều kích của con người, như là tư cách riêng, cá nhân và sự tự biểu lộ được hiện thân (person as self-identity, individuality…: chủ vị xét như là căn tính phản tỉnh, như là cá vị và như một sự tự biểu lộ qua xác thể) . Nếu Đức Kitô sống lại trao ban Ngài (himself personally : chính con người Ngài) trong phép Thánh Thể, nơi các Kitô hữu được nuôi dưỡng bởi “sự sống không chết (bất tử) của thân xác phục sinh của Chúa” (Gustave Martelet, The Risen Christ and the Eucharistic World, 1976, 176), thì niềm hy vọng hoàn tất của con người trong sự phục sinh của cả con người là một phần cơ bản của đức cậy cánh chung (niềm hy vọng cánh chung).
2.2 2.2 Chiều kích liên vị và Giáo hội: Sự kiện nhiều người hiệp thông (Event of persons in communion : biến cố hiệp thông giữa các chủ vị).
Mặc dầu xét về căn tính riêng, hiện hữu và tồn tại, mỗi con người là một chủ thể duy nhất, một hữu thể siêu việt, có trách nhiệm, có giao tiếp và có tự do, còn có một cái gì đó có tính cộng đồng cơ bản nơi con người. Ở đây một sắc thái có ý nghĩa nổi lên từ việc chúng ta nhấn mạnh đến chiều kích liên vị và chiều kích Giáo hội của nhân vị. Mối quan hệ (Tương quan) là một tính chất cơ bản của mọi người (all beings : mọi hữu thể) trên thế giới; một người chỉ hiện diện với chính mình khi người ấy hiện diện với người khác nữa, xét về sự hiệp thông. Bởi vì sự hiện hữu của con người là lời mời gọi đến một cuộc sống hiệp thông với tha nhân và với mọi thụ tạo, một người không thể là một thực thể khép kín. Như đã nói trước trong luận văn của chúng tôi, một người cô lập là mâu thuẫn (isolated person is a contradiction in terms : một chủ vị cô lập là điều tự nó mâu thuẫn), vì một chủ thể không có quan hệ, tự đầy đủ cho mình (self-contained, self focused : tự mãn, chỉ biết qui về mình) hoặc là một ego (cái tôi) cô đơn thì không dung hợp với cảm nghiệm con người và Kitô hữu về niềm cậy trông (kinh nghiệm của con người cũng như của kitô hữu về niềm hy vọng). Tự bản chất, niềm cậy trông liên quan đến (bao hàm) ý thức về hiệp thông. Như Zizioulas nói: “một người là không một người” (one person is no person : chủ vị đơn độc là phi chủ vị hoặc chủ vị độc nhất tức là chẳng có chủ vị nào cả) (trong Cummings, Coming to Christ: A Study in Christian Eschatology, 270). Ernst Bloch, một triết gia Mác xít về hy vọng, cũng viết: “Một Kitô hữu không là một Kitô hữu nào cả” (unus christianus nullus christianus : kitô hữu đơn độc là phi kitô hữu) (The Principe of Hope, 1996, 331). Như thế, con người sống đầy đủ (the human person fully alive : tạm dịch là, một chủ vị thực sự sống động) là được hình thành qua các mối quan hệ. Trong viễn tượng Kitô giáo, không thể nói về nhân vị mà thiếu khái niệm hiệp thông.
Ý nghĩa cánh chung của phép Thánh Thể nổi lên trong chiều kích liên vị của nhân vị. Không có phần cá nhân tách ra khỏi cộng đồng (có thể dịch thoát : không có các cá thể sống tách rời nhau). Sống luôn luôn là sống với, luôn sống chung, và luôn có ý nghĩa là cùng hiệp thông (hiện hữu luôn là hiện hữu trong hiệp thông). Gabriel Marcel, một triết gia hiện sinh kitô giáo, nhắc nhở chúng ta rằng, hy vọng luôn có liên quan đến “thou”, nghĩa là đến sự hiệp thông đích thực được thiết lập giữa nhiều người (giữa các chủ vị). Như vậy, là bí tích của đức cậy trông, phép Thánh Thể bao gồm thực tại hiệp thông, bởi vì (since : từ đó) chúng ta có thể nói đến esse (hiện diện) của Đức Kitô trong phép Thánh Thể với từ ngữ (như là) “ad-esse”, hiện diện với Giáo hội, với cộng đoàn cử hành bí tích tạ ơn. Đức Kitô là tấm bánh sự sống “được bẻ ra” cho toàn nhân loại. Ở đây phép Thánh Thể không chỉ chuyển thông sự tương tác giữa thiên linh và con người theo sáng kiến (mối tương giao giữa thần linh và nhân linh, do sáng kiến của Thiên Chúa), nhưng còn làm chứng cho sự kiện rằng tính độc nhất của con người hiện diện cùng với cộng đoàn có các mối quan hệ hỗ tương (nên dịch thoát : tính độc nhất của chủ vị hiện hữu bên trong các mối tương quan cộng đoàn)
Chiều kích liên vị của con người dần dà phát triển vào trong một cộng đồng. Con người sẽ thành nhân vị trong cộng đồng và hiện diện trong sự thông hiệp với các người khác, là những người khác nhau trong mọi lĩnh vực sống. Trong cảm nghiệm cá nhân như thế, có một cảm thức thuộc về toàn thế giới như một cộng đồng liên kết với nhau. Chính Teihard de Chardin đã giải thích:
“Ngay từ khởi đầu việc chuẩn bị Đấng Thiên sai đến, cho đến ngày Chúa quang lâm, đi qua cuộc tỏ hiện trong lịch sử của Đức Giêsu và các giai đoạn phát triển của Giáo hội Chúa, một biến cố duy nhất đang được triển khai trong thế giới: đó là mầu nhiệm Nhập Thể được thực hiện trong mỗi cá nhân qua phép Thánh Thể.
Mọi sự hiệp thông của sự sống – thời gian là một hiệp thông. (all communions of a life-time… : mọi hiệp thông trong đời người là hiệp thông duy nhất)
Mọi sự hiệp thông của mọi người đang sống là một hiệp thông (Mọi hiệp thông giữa tất cả những người đang sống là hiệp thông duy nhất)
Mọi sự hiệp thông của mọi người hiện nay, trong quá khứ và trong tương lai là một hiệp thông” (Mọi hiệp thông của tất cả thế nhân, trong hiện tại, quá khứ cũng như tương lai, là hiệp thông duy nhất) (The Divine Milieu, 1960,123-126).
Nếu đức cậy trông Kitô giáo là cậy trông vào Chúa Ba Ngôi, Đấng chủ yếu liên kết với nhau trong hiệp thông ngôi vị, thì rõ ràng một niềm hy vọng không là của các cá nhân biệt lập, nhưng là của mọi người trong cộng đồng, trong đó mọi người quy tụ lại mà không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ hoặc truyền thống văn hóa. Xét về hiệp thông trong phép Thánh Thể, niềm cậy trông là một thái độ tích cực đến với các cộng đồng khác nhau, là sự mong mỏi (appreciation : tạm dịch là sự tôn trọng) hiệp nhất trong đa dạng, và sự hiểu biết về thực tại tối hậu là có liên quan với nhau (an understanding of the ultimate reality as relational tạm địch : và nhận thức về chiều kích tương quan của thực tại tối hậu).
Diarmuid O’Murchu dường như ủng hộ quan niệm tương tự dựa vào phát hiện của vật lý lượng tử:
“Thiên Chúa chủ yếu là một thiên hướng và một sức mạnh tương tác, và dấu ấn thiên linh nằm trong ước muốn nền tảng về quan hệ, về độc lập lẫn nhau và tương thuộc với nhau (interdependently : sự lệ thuộc lẫn nhau và tương giao với nhau) . Thế gian, con người và thần linh (có lẽ nên dịch : vật chất, nhân linh và thần linh) hòa hợp hài hòa (hoà điệu) với nhau trong bản tính cơ bản của mình, trong thiên hướng chung là tương tác với nhau (nối kết với nhau) và vui hưởng sự sống chung tương thuộc với nhau (cuộc chung sống lệ thuộc lẫn nhau)” (Quantum Theology, 1977, 82-83).
Cũng như bánh và rượu trở thành của ăn và của uống thật sự của Nước Chúa, những người tham dự phép Thánh Thể cũng hiệp nhất trong thân thể với sự sống của loài người mới (new humanity : nhân tính mới mẻ) của Đức Kitô, như kết quả của tác động biến đổi của Chúa Thánh Thần. Phép Thánh Thể hoàn thành và hoàn thiện thân thể của kitô hữu. Được kết hợp vào thế giới biến hình của Đức Kitô phục sinh, Kitô hữu sống cuộc đời mới trong Đức Kitô, tìm thấy nơi Ngài một cộng đồng nhân loại mới và cách thức mới để đi vào liên đới với tha nhân. Nói cách khác, phép Thánh Thể giúp người tham dự vượt ra khỏi sự cô lập của chủ nghĩa cá nhân và khuynh hướng quy ngã để đến với sự biểu lộ đầy đủ của thân mình Đức Kitô, thân mình Giáo hội và thân mình của Thánh Thể.
2.3 Chiều kích vũ trụ:
Khía cạnh thứ ba của con người là hiệp thông không chỉ với tha nhân, mà còn với toàn thể vũ trụ. Vì đức cậy trông Kitô giáo có chiều kích vũ trụ, sự viên mãn trong tương lai mà mọi người nhắm tới, chỉ được tìm thấy trong sự biến đổi của thế giới, mà trong đó con người liên kết cả khi sống lẫn khi chết.
Là một biến cố của hiệp thông cánh chung, phép Thánh Thể cử hành sự hiệp nhất và liên đới của loài người, thế giới và toàn vũ trụ, khi bánh và rượu, vốn là các thực tại trần thế, đến với mọi người như mang tương lai cuối cùng của nhân loại và vũ trụ. Theo nghĩa này, mầu nhiệm Thánh Thể mở rộng ra cho (vươn tới) mọi loài thụ tạo.
Như thế chúng ta có thể hiểu ơn cứu độ như là việc mọi loài đi vào cộng đồng yêu thương muôn đời của Chúa. Theo các phát hiện của vũ trụ học hiện đại, chúng ta là thành phần của tất cả và nhìn thấy mọi sự trong vũ trụ, và là thành phần của nhau (ourselves : của chính chúng ta) nhờ sự tương thuộc. Không có gì nằm ngoài mục tiêu (scope : phạm vi) của vũ trụ này, vốn là (hiểu như là) “thân mình của Chúa”, nguồn mạch và hơi thở của mọi loài. Hiện nay có một cách mới nhìn về vũ trụ gọi là (Hiện nay xuất hiện một cách nhìn mới về vũ trụ, được đặt tên là) “chuyện sáng tạo chung”, vốn hành động như sự sửa chữa cho cả nhân loại học hiện đại và mô hình hữu cơ cổ điển (có thể coi như một sự điều chỉnh lại nhân học hiện đại cũng như quan niệm hữu cơ cổ điển) . Câu chuyện vũ trụ này nhấn mạnh một nguồn gốc chung của mọi dạng sự sống trong cả vũ trụ. (để dễ hiểu hơn : common creation story và cosmic story có lẽ nên dịch là lịch sử sáng tạo chung, và lịch sử mang chiều kích vũ trụ)
Dưới ánh sáng của nhân học mới này, cũng như cách tiếp cận cánh chung đến phép Thánh Thể, đức cậy trông Kitô giáo nổi lên như một khái niệm bao gồm cả vũ trụ, trong đó có sự biến đổi của toàn thể vũ trụ. Hơn nữa, trong mô hình Thánh Thể về vũ trụ như là thân mình Đức Kitô, mỗi thụ tạo “là sự biểu hiện của Chúa, lời Chúa, dấu hiệu của Chúa Ba Ngôi, cách thức hiện diện thiên linh” (Denis Edwards, Jesus the Wisdom of God: An Ecological Theology, 1995,130). Vì vậy, không nên xem vũ trụ vật chất như chỉ là nguồn để khai thác phục vụ nhu cầu của con người. Mỗi thụ tạo là một biểu hiện, một bí tích của Chúa hiện diện, một tác phẩm nghệ thuật của Chúa Ba Ngôi.
Như thế, ơn cứu độ của Chúa đến với toàn thể loài thụ tạo “mà không hủy diệt, không tàn phá, không biến đổi, nhưng làm phong phú hóa thêm” (Xem Durrwell, The Eucharist: Presence of Christ, 32). Ở đây, chúng ta đi đến một điểm là cần tôn trọng sâu xa thế giới được tạo thành, bởi vì vũ trụ vật chất được tín thác cho nhân loại, để nhân loại có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ và chăm sóc vũ trụ này. Xét về niềm hy vọng cánh chung, sự chấm dứt của thế giới sẽ không là sự hủy diệt của vũ trụ, nhưng là sự biến đổi và sự hoàn thành, đến nỗi vũ trụ sẽ trở nên “một trời mới và một đất mới” (Kh 21:1). Qua mầu nhiệm Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, Chúa đi vào liên đới với vũ trụ, và nhờ ân sủng của phép Thánh Thể, Chúa khởi đầu một tiến trình thần linh hóa vũ trụ vật chất. Một niềm cậy trông Thánh Thể, như là sự hiệp thông vũ trụ, đã khởi dậy. Kitô hữu đến với phép Thánh Thể, mang bánh và rượu nho như biểu tượng của toàn vũ trụ sẽ được Chúa Thánh Thần biến thành Mình và Máu của Đức Kitô vũ trụ.
3. 3. Phép Thánh Thể như một hoạt động giải thoát đầy niềm cậy trông (The Euch. as source of a… Thánh Thể như là nguồn suối của …)
Đức cậy trông Kitô giáo chủ yếu được biện minh trong hoạt động, trong hành động cam kết có trách nhiệm cho sự cứu độ thế giới, sự giải thoát khỏi áp bức xã hội và tha hóa văn hóa. Hoạt động cho công lý và hoạt động cho giải thoát trong lịch sử hiện nay đã trở thành một mệnh lệnh cho việc (imperative intrinsic to : một thúc bách nội tại của) cử hành phép Thánh Thể. Là sự cử hành đức cậy, hiệp nhất, hòa bình và hòa giải, phép Thánh Thể nhắc nhở các Kitô hữu rằng họ phải giúp giải quyết các tình hình bóc lột và bất công. Như Gustavo Gutierrez nhấn mạnh: “Nếu không có sự cam kết thật sự chống lại bóc lột và tha hóa, và cam kết xây dựng một xã hội đoàn kết và công bằng, việc cử hành Thánh Thể là một hành động trống không, thiếu sự chấp thuận (endorsement theo context ở đây có lẽ nên dịch là sự dấn thân) của những người tham dự Hiến tế tạ ơn” (A Thelology of Liberation, 1993, 150). Ở đây, chiều kích cánh chung của phép Thánh Thể mang lại ý nghĩa hiệu quả và sức mạnh không chỉ cho con người và thực thể liên vị, mà còn cho cơ cấu chính trị, hệ thống xã hội mà chúng ta tạo ra và tạo dáng (shape : và khuôn đúc hoặc thành khuôn khổ) cho chúng ta. Quan điểm về niềm hy vọng, xét về sự thực hiện cụ thể về yêu thương anh em đồng loại, đề cao sự liên kết tự bản chất (có lẽ nên dịch : Một nhãn quan hy vọng như thế, thể hiện qua hành động yêu thương tha nhân cách cụ thể, làm sáng tỏ mối liên kết nội tại) và năng động giữa việc cử hành Hiến tế tạ ơn và hành động giải thoát.
3.1 Các hàm ý chính trị, xã hội và giải thoát của phép Thánh Thể : khát khao công lý.
Minh họa bi thương (dramatic ở đây có lẽ nên dịch đơn giản là hùng hồn) nhất của đòi hỏi thiên linh cho công lý và giải phóng kẻ bị áp bức là chuyện Xuất hành. Câu chuyện giải phóng khỏi kiếp nô lệ và hành trình đi về đất hứa và giao ước do Chúa thiết lập trên núi Sinai, là hình ảnh báo trước cuộc giải phóng toàn nhân loại trong bối cảnh mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô. Tuy nhiên, đây không phải là một thí dụ riêng lẻ về việc Chúa quan tâm lo lắng cho người nghèo. Các ngôn sứ thường nói về việc Chúa phán xét những người cứ xem việc họ thực hành nghi thức tôn giáo là trọng hơn sự đấu tranh công lý cho mọi người, và họ xem đây là đòi hỏi chính yếu của Chúa đối với dân (xem đòi hỏi chính yếu của Chúa đối với dân là việc thực hành nghi thức tôn giáo hơn là đấu tranh dành công lý cho mọi người) (Is 1:11-17; 58:4-8; Mic 3:1-3; 6:7-11 ).
Hành động cứu độ của Chúa cho người nghèo và người bị áp bức được tiếp nối và gia tăng hơn trong Tân ước. Trong các Tin mừng, Đức Giêsu trong sứ vụ công khai của Ngài được mô tả là có lòng thương xót đặc biệt đối với người bị gạt bên lề xã hội và người bị áp bức. Đối với Ngài, niềm hy vọng cánh chung là nền tảng cho công bằng xã hội và đạo đức. Ngài chào đón những kẻ bị bỏ rơi và người tội lỗi vào ngồi đồng bàn với ngài, như một dự báo của Nước Chúa, loan báo năm giải thoát của Chúa (Lc 4:18-19). Truyền thống ngôn sứ và cánh chung cũng xuất hiện trong đời sống và việc thờ phượng của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi (CVTĐ 2:44-47; 3:13-15; 4:32). Theo chứng tá (chứng từ) Kinh Thánh, đức tin Kitô giáo hoạt động trong việc làm công lý và yêu thương, và đây là trắc nghiệm về hình thức đích thực của việc thờ phượng.
Đặc tính nền tảng của phép Thánh Thể, tức hoạt động giải phóng, có thể được hiểu như sự hiệp thông, vốn có ba nghĩa. Thứ nhất, nó liên quan sự giải phóng khỏi tình hình xã hội về áp bức và tha hóa (có thể dịch : liên hệ đến việc giải thoát khỏi những hoàn cảnh bị áp bức, tha hoá trong xã hội). Phép Thánh Thể thể hiện và định nghĩa một cộng đồng nhân loại như thân thể Đức Kitô, vì phép Thánh Thể cử hành chiến thắng của Đức Kitô trên những gì đàn áp và chia rẽ; đó là chiến thắng của một trật tự mới, mà trong đó các Kitô hữu quy tụ lại với nhau, hiệp nhất với Đức Kitô trong cái chết của Ngài và nay sống lại để sống sự sống phục sinh (Rm 6:4-5). Phép Thánh Thể nêu ra trật tự này như niềm cậy trông cánh chung, bao gồm sự mở ra trọn vẹn với Nước Chúa, Nước công lý và hòa bình. Trước đức cậy cánh chung này, câu trả lời (sự đáp trả) của người Kitô hữu phải là một cuộc sống đầy thương xót, công bằng và yêu thương tha nhân. Mọi loại hình bất công, phân biệt chủng tộc, chia cách, chia rẽ và thiếu tự do là những thách đố thật sự (are thus radically challenged : thực sự bị thách thức triệt để, có thể dịch đảo lại : khi kitô hữu đến chia sẻ… cũng có nghĩa là thách thức lại cách triệt để mọi hình thái bất công… ) khi Kitô hữu đến chia sẻ Hiến tế tạ ơn, nơi đặc biệt để biết sự hiện diện của Chúa.
Thứ hai, phép Thánh Thể như một giải thoát kêu gọi sự biến đổi của con người và Giáo hội, bằng cách người Kitô hữu sống với sự tự do nội tâm hơn trước mặt mọi thứ ràng buộc. Phép Thánh Thể giúp họ được tự do, không sợ các đau khổ và sự chết, khỏi sự cô đơn, khỏi ích kỷ và tự kiêu, để lập ra một cộng đồng, mà trong đó mọi người có thể chia sẻ sự sống với nhau, đặt của cải làm của cải chung và tự đặt mình phục vụ người nghèo và người túng thiếu (1 Ga 1:3, 6; 1 Cr 1:9; 2 Cr 9:13; Rm 15:26-27). Khi cử hành Hiến tế tạ ơn, cộng đồng Kitô hữu được mời gọi làm chứng cho điều mà Đức Kitô Phục sinh đã hứa cho tương lai thế giới.
Thứ ba, phép Thánh Thể là bí tích của sự giải phóng Kitô giáo khỏi tội lỗi trong mọi chiều kích. Tội lỗi, dù xuất hiện lúc nào chăng nữa, là một ảnh hưởng phá hoại trong thực tại mọi mối tương quan, sự đổ vỡ của hiệp thông với Chúa và với mọi người, do đó tội lỗi là sự đối nghịch với Chúa, tức là đối nghịch với những người đang hiệp thông (the exact opposite of what God is, namely, persons in communion có thể dịch thoát : hoàn toàn đối nghịch với mầu nhiệm Thiên Chúa, vốn là mầu nhiệm hiệp thông các ngôi vị) Qua sự chia sẻ mình và máu Đức Kitô, các Kitô hữu dần dà được thoát khỏi quyền lực của sự dữ. Phép Thánh Thể cho họ thấy sự hiện diện của tội lỗi trong tính ích kỷ, ghen ghét, đồng phạm (complicity : đồng loã) với bất công xã hội, trong khi lôi kéo họ đến cuộc sống mới. Như Gutierrez giải thích:
“Trong phép Thánh Thể, chúng ta cử hành thập giá và sự sống lại của Đức Kitô, sự vượt qua của Ngài từ cõi chết đến cõi sống, và sự vượt qua của chúng ta từ tội lỗi đến ân sủng. Trong Tin Mừng, Bữa Tiệc ly được trình bày dựa trên nền của lễ Vượt qua của người Do Thái, vốn cử hành sự giải thoát khỏi đất Ai Cập và giao ước trên núi Sinai. Lễ Vượt qua Kitô giáo lấy lại hình ảnh và thể hiện đầy đủ ý nghĩa của lễ Vượt qua của người Do Thái. Giải phóng khỏi tội lỗi là gốc rễ của giải phóng khỏi chính trị. Giải thoát khỏi tội tỏ lộ điều thực sự liên quan trong giải phóng chính trị”. (A Theology of Liberation, 149)
Bằng cách này, hành động cứu độ và chữa lành của Chúa trong Đức Kitô là điều mà phép Thánh Thể nhắc lại và cử hành chống lại mọi thế lực hủy diệt (1 Cr 11:17-24; Jas 2:14). Như vậy, cử hành phép Thánh Thể là một “thời khắc hoán cải, vượt qua các tha hóa, rào cản, các cực và tầng lớp xã hội (polarities and classes : những phân hoá và các giai cấp), để trở thành một cộng đồng cởi mở của yêu thương và hy vọng cho mọi người” (Tony Kelly, The Bread of God: Nurturing a Eucharistic Imagination, 2001, 70-71). Mỗi lần cử hành Hiến tế tạ ơn là nói lên tình thương và sự hòa giải của Chúa cho mọi người; đó cũng là một thời khắc của sự thật và một chuyển động của sự sống và sự tăng trưởng.
Cộng đoàn Kitô hữu quy tụ để cử hành Hiến tế tạ ơn, không thể chia sẻ sự hiệp thông vào sự sống thiên linh, nếu không phản ánh về điều có ý nghĩa cho (nếu không suy nghĩ xem điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với) bác ái Kitô giáo trong một thế giới đang thiếu ăn, một thế giới trong đó sự bất công, nghèo đói, và áp bức luôn hiện diện. Cử hành tưởng niệm sự chết của Đức Kitô “cho tới khi Ngài lại đến” (1 Cr 11:26) có nghĩa là chấp nhận một thói quen hiếu khách của phép Thánh Thể, một sự sẵn sàng trao ban sự sống của mình. Như vậy, dự phần vào thân xác của Đức Kitô là “chấp nhận nỗ lực hàng ngày cho công lý trong yêu thương”. Quan điểm cánh chung của phép Thánh Thể bén rễ sâu trong việc “tưởng niệm Đức Giêsu”, trong những gì Ngài đã loan truyền và sống vì Nước Trời. Tuy nhiên, chứng tá Thánh Thể này không chỉ là nhìn lại cuộc đời của Đức Giêsu. Nó còn nhìn về phía trước và chia sẻ tầm nhìn của những gì sẽ đến, tầm nhìn của hòa bình trong nước Chúa, và qua đó các thụ tạo sẽ được biến đổi và hoàn tất.
3.2 Phép Thánh Thể và sự đói khát của con người về ý nghĩa và mục đích.
Sự tiết lộ bản chất con người về “đói khát” tạo ra nhiều câu hỏi nữa (Có lẽ nên dịch thoát : Bản chất con người khai mở dưới khía cạnh “đói khát”lại đặt ra nhiều câu hỏi khác). Khái niệm này đem lại một áp dụng có ý nghĩa cho phép Thánh Thể, xét về sự đói khát Bánh hằng sống, tham dự đầy đủ vào sự hiếu khách của Chúa. Phép Thánh Thể được hiểu thế nào về bánh hằng sống (Phép Thánh Thể xét như là bánh hằng sống có thể hiểu như thế nào) ? Trong viễn tượng này, phép Thánh Thể có nhắc lại trách nhiệm chúng ta cần có để giải quyết các nạn đói khát trên thế giới hay không, chẳng hạn đói khát về tự do và nhân phẩm, đói khát hòa bình và tình thương, về ý nghĩa và mục đích? (Does not the Eucharist… recall us : Trong viễn tượng này, phép Thánh Thể lại không nhắc nhớ chúng ta về trách nhiệm giải quyết… hay sao ?)
Bởi vì phép Thánh Thể liên kết Bánh hằng sống của Thánh Thể (Ga 6:31-57) với manna được Chúa ban cho dân trong sa mạc (Xh 16:4-35), nên tấm bánh bẻ ra và chia sẻ giúp cho cộng đồng Kitô hữu có một cái nhìn về hình dáng của thế giới mới sẽ đến. Ở đây phép Thánh Thể trở thành dấu chỉ của đức công bằng rộng rãi, nhờ đó Chúa mời gọi người đói khát đến với bữa tiệc cánh chung. Đói khát là một kinh nghiệm chung cho mọi người. Một đàng, nó nói đến thức ăn thể lý (physical sustenance : việc duy trì sự sống thể lý), và đàng khác, nó nói đến cảm thức con người về sự bất toàn, vốn làm cho con người đạt đến (reach out : vươn tới) cuộc sống mới xét về hiệp thông và sống tốt đẹp hơn. Đói khát kêu gọi trở thành điều “chưa có” và là một lĩnh vực khả thể tính (Đói khát là mong muốn điều “chưa có” trở thành hiện thực, nó thuộc về lãnh vực của khả thể tính). Dù đói khát được định nghĩa ra sao, nó cho thấy sự tương thuộc và tương kết lẫn nhau của mọi người và mọi thụ tạo (Dù định nghĩa thế nào đi nữa, đói khát, theo một nghĩa sâu xa, cho thấy mối tương liên và lệ thuộc lẫn nhau giữa mọi người và mọi thụ tạo.
Nếu đói khát tập chú vào sự lệ thuộc của con người với sự giàu có của thiên nhiên, và mối tương quan của chúng ta với nhau (vào thiên nhiên giàu có cũng như vào mối tương liên giữa con người chúng ta với nhau), phép Thánh Thể quan tâm đến nhu cầu tinh thần và vật chất, mà không cho rằng nhu cầu nào quan trọng hơn nhu cầu nào. Bởi vì biểu tượng đầu tiên của đói khát (Bởi vì biểu tượng của bí tích Thánh Thể) được rút ra từ các sinh hoạt của đời người: bánh của lao động và tranh đấu, rượu của tình anh em và sự cam kết, phép Thánh Thể không là một thế giới bí tích tách rời khỏi thực tại xã hội. Truyền thống Kitô giáo khẳng định rằng, trong cử hành Hiến tế tạ ơn, Đức Kitô làm cho chúng ta biết Ngài (Đức Kitô cho chúng ta nhận ra Ngài)không chỉ ở trên bàn tiệc như là bánh của Chúa, nhưng còn là “trong sự bẻ bánh nữa” (Lc 24:32, 35). Đây là một hành vi chia sẻ lương thực hàng ngày với người đói khát, tiếp đón người xa lạ, và ban cho họ niềm hy vọng. Trong việc chia sẻ Thánh Thể, chúng ta tìm thấy sự tương hợp tích cực giữa hạnh phúc con người ở trần thế và ơn cứu độ sau cùng trên thiên quốc, giữa tương lai lịch sử và Nước Trời cánh chung. Như thế, phép Thánh Thể “không thể thoát ra khỏi các vấn đề của thế giới mà việc cung cấp thực phẩm áp đặt cho nhân loại” (Martelet, The Risen Christ and The Eucharistic World, 37). Chính trong viễn tượng này, chúng ta có thể hiểu phép Thánh Thể như của ăn và của uống về niềm hy vọng cho thế giới.
Tuy nhiên, thức ăn thức uống không chỉ là phương tiện để sống còn hoặc để khỏi chết. Chẳng hạn, trong Tân ước, việc ngồi cùng bàn với Đức Giêsu còn có nghĩa rộng là một sự kiện của hòa bình, giải thoát, tin tưởng và hiếu khách, một dấu hiệu của hòa giải và sự dự báo cho bữa tiệc cánh chung trong Nước Trời (Lc 14:15; 15:2; MC 2:15-17; Mt 26:29). Có một nghĩa rõ ràng, nhưng không sát nghĩa đen, trong việc Chúa tự xưng mình là bánh hằng sống (Ga 6:35, 48, 51), mà Chúa ban để nuôi sống thế giới, làm cho nhân loại hết đói khát về ý nghĩa và mục đích trong cuộc sống. Như vậy, phép Thánh Thể trở nên một thách đố liên tục cho cộng đồng Kitô hữu trong việc tìm kiếm các tương quan thích hợp trong đời sống xã hội, kinh tế và chính trị, để đi đến một cộng đoàn chia sẻ và hòa giải, và làm cho cuộc sống được viên mãn.
4. 4. Phép Thánh Thể như là quà tặng cánh chung của Thiên Chúa trong Đức Kitô:
Trong ý nghĩa nào chúng ta có thể nói rằng nơi phép Thánh Thể, các Kitô hữu biết trước tương lai và nếm hưởng trước các việc sẽ đến? Câu trả lời của chúng ta phải được hiểu như sự dự phần, trong Đức Kitô, vào điều Thiên Chúa sẽ làm để biến đổi toàn thể thụ tạo. Bởi vì phép Thánh Thể đã là sự hiệp thông với Đức Kitô, và sự hiệp thông này sẽ đạt viên mãn với việc nước Chúa trị đến, làm sao sự mong chờ này ban năng lượng mới để sống cuộc đời này với mọi khía cạnh cụ thể của niềm cậy trông? Chúng ta nhớ rằng phép Thánh Thể luôn là hồng ân tự trao ban của Chúa, vốn khởi đầu sự hiệp thông cánh chung của sự sống và tình thương. Ở đây, khái niệm quà tặng thuần túy, liên kết với kinh nghiệm hiện đại, cũng là cơ bản cho các cách thức để chúng ta hiểu được phép Thánh Thể là việc cử hành tạ ơn.
4.1 4.1 Thánh Thể là quà tặng của tự do:
Quà tặng của tự do nối kết (gắn liền) với phép Thánh Thể như phép Thánh Thể nối kết (gắn liền) với mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô. Phép Thánh Thể là sự cử hành bí tích của cuộc vượt qua mới, trong đó Đức Kitô trao ban cho nhân loại quà tặng là chính Ngài, để cho toàn thế giới có thể hướng về “sự tự do vinh quang của con cái Chúa” (Rm 8:21; 1 Ga 3:1-3). Trong thực tại cứu độ, phép Thánh Thể (In all its salvific reality, the Eucharist : Bí tích Thánh Thể, xét như là thực tại cứu độ) là chính Đức Kitô tự hiến làm quà tặng, cho thấy ý nghĩa đích thực của tình yêu được tự do trao ban: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13:1). Trong nghĩa này, phép Thánh Thể diễn tả cái nhìn nền tảng (basic vision : nhãn quan căn bản) của mầu nhiệm ân sủng, một quà tặng thiêng linh (thần linh) được trao ban cách nhưng không. Chia sẻ trong phép Thánh Thể, các Kitô hữu mở lòng mở trí cho quà tặng tự do trong Đức Kitô. Khi ăn và uống Mình và Máu Chúa Kitô, họ trở nên người dự phần vào đời sống vinh quang của Chúa. Như kinh nguyện Thánh Thể 4 tung hô: “Lạy Chúa, nhờ thập giá và việc Chúa phục sinh, Chúa làm cho chúng con được tự do. Chúa là Đấng cứu chuộc thế gian”. Như thế phép Thánh Thể là cử hành cuộc vượt qua mới đi từ bóng tối đến ánh sáng, từ tội lỗi đến tự do. Điều cộng đồng Kitô hữu tiếp nhận là ơn thánh hóa và cùng đích của nó, chính là sự sống đời đời (Rm 6:22).
Trong thực tại ân sủng này, Kitô hữu tự do đón nhận Thánh Thể được trao cho họ. Đây là điều họ không đáng hưởng xét theo công đức của họ. Tuy vậy, sự đón nhận ân sủng Thánh Thể củng cố sự tự do của họ, làm cho họ tự do để trao ban trong mối quan hệ vô điều kiện với Chúa và với tha nhân. Điều này không giống như món nợ và hoặc một nghĩa vụ để thỏa mãn sự trao đổi trong kinh tế chẳng hạn (đổi chác như trong lãnh vực kinh tế). Khi các Kitô hữu cử hành mầu nhiệm phục sinh trong phép Thánh Thể, họ tăng trưởng trong cuộc sống mới về tự do mà Chúa đã chiến thắng thế gian (freedom which Christ has won for the world : tự do mà đức Kitô đã dành lại cho thế giới hay nhân loại). Sự tự do này là khả năng tạo ra và phát triển các điều kiện để hướng cuộc sống con người về tương lai, trong đó công trình cứu độ của Chúa được thực hiện đầy đủ. Nói cách khác, phép Thánh Thể là sự dự phần và nguồn mạch của tự do thiên linh và sự dự báo lời hứa của Chúa trong tương lai. Đây là hồng ân và hành động của Chúa trong nghĩa rằng nó được nối kết với sự phát triển của chúng ta trong sự viên mãn của Nước Chúa (our own bringing forth into history có thể dịch thoát : chính nỗ lực phát triển của chúng ta trong lịch sử hầu cho Nước Chúa được hoàn tất) .
Nếu sự tự do là sự hoàn thành sau cùng của niềm hy vọng và là điều thật cần thiết (duy nhất cần thiết), phép Thánh Thể là quà tặng đáng ngạc nhiên nhất của tự do thiên linh, nối kết nó với các quà tặng tự do khác trong mầu nhiệm của Đức Kitô. Các quà tặng này có thể được diễn tả như tự do khỏi cô đơn và cô độc để đi đến giao tiếp và hiệp thông, tự do khỏi đói khát để chia sẻ trong bữa ăn trong Nước Trời, tự do khỏi tội lỗi để cứu độ và hòa giải, tự do để hy vọng cho sự viên mãn của vinh quang mai sau.
4.2 Phép Thánh Thể như việc cử hành tạ ơn:
Như đã được khám phá, và dầu hoàn cảnh nào chăng nữa, phép Thánh Thể là bí tích tạ ơn, trong đó các Kitô hữu tụ họp lại để cử hành và chia sẻ ơn cứu độ của Chúa trong Đức Kitô. Theo tư tưởng phê bình hiện đại, sự trao ban và đón nhận một quà tặng là sự rộng lượng hoàn toàn. Bởi vì không chờ mong sự đền đáp dưới bất cứ hình thức nào, làm sao Kitô hữu hiểu được phép Thánh Thể như việc cử hành tạ ơn? Họ có thể làm gì để cử hành lòng nhân từ của Chúa Trời rộng lượng?
Kitô hữu tụ họp để dâng lời cảm tạ, không bởi vì cảm nhận mình mang nợ, nhưng vì họ sống trong một thế giới của ân sủng và phúc lành; họ trở nên sự viên mãn được báo trước (có lẽ nên dịch thoát : họ được dự phần trước vào sự hoàn tất) của tình yêu Chúa tự hiến trong lịch sử. Chính phép Thánh Thể đã biến đổi cộng đoàn Kitô hữu thành một nhân loại mới của Đức Kitô, để đến phiên mình, họ trở nên bánh cho thế giới, bánh được bẻ ra, trao ban và tiêu thụ (hưởng dùng). Phép Thánh Thể là sự cử hành tạ ơn trong nghĩa rằng ân sủng của Thánh Thể là quà tặng nhưng không của Chúa, mà không ai có thể chiếm hữu, bởi vì nó không ở thời điểm hiện tại đang qua này (never simply in the present…không đơn thuần dừng lại ở hiện tại), nhưng là hướng về tương lai cánh chung, luôn di chuyển về tương lai.
Ở đây có một nhận định quan trọng: đó là phép Thánh Thể là một quà tặng mở, chứ không phải quà tặng đóng kín, là quà tặng tràn trề, cho cả vũ trụ và lịch sử. Như kinh tiền tụng tuần bốn trong phép Thánh Thể diễn tả: “Cha không cần chúng con cảm tạ Cha, nhưng chúng con muốn cám ơn Cha vì Cha tự hiến cho chúng con. Kinh nguyện tạ ơn của chúng con không đưa thêm gì vào vinh quang cao cả của Cha, nhưng làm cho chúng con phát triển trong ân sủng của Cha” (nên lấy lại chính bản văn phụng vụ). Đứng trước quà tặng của Thánh Thể như thế, không như tình trạng trao ban của con người (dịch thoát : không như kiểu trao ban của con người), Chúa không đòi hỏi nghĩa vụ nào, nhưng trao ban sự sống thiên linh, một cách tự do và rộng lượng, và ngoài sự ước mong trao ban của chúng ta (out of the sheer desire to give : phát xuất từ ước muốn cho đi cách nhưng không). Lời đáp trả phù hợp nhất mà có thể đem lại ý nghĩa cho hành động cảm tạ của cộng đồng Kitô hữu là mong muốn đi vào tình thương của Chúa Ba Ngôi, và dự phần chia sẻ sự sống với tha nhân. Như Kelly giải thích:
“Dù hoàn cảnh ra sao chăng nữa, chỉ có Chúa là khởi nguyên và kết thúc của những gì chúng ta có – và tạ ơn sự thiện hảo của Chúa là một chiều kích thường xuyên của đức tin, đức cậy, đức mến mà chúng ta tuyên xưng. Mặc dầu Chúa không cần chúng ta ngợi khen và tạ ơn Ngài, chúng ta cần trở nên người biết ngợi khen và tạ ơn Chúa, nếu chúng ta sống trong tự do đích thực và sự sáng tạo tinh thần” (The Bread of God: Nurturing an Eucharistic Imagination, 75).
Đây là sự đánh giá độc đáo và tự phát về hồng ân Thánh Thể (It’s a genuine and spontaneous appreciation có lẽ nên dịch thoát là : Đây là sự đáp ứng chân thực và tự nhiên trước hồng ân của bí tích Thánh Thể )Việc cảm tạ của Kitô hữu là cách thức đi vào đời sống nội tâm của Chúa. Điều này có nghĩa là, qua sự ngợi khen và tạ ơn Chúa, những người tham dự Hiến tế tạ ơn được lôi kéo vào lối sống của Chúa. Trong nghĩa này, hồng ân Thánh Thể tiếp tục gia tăng, và một lúc nào đó sẽ vượt qua giới hạn, trở thành bình minh liên tục của tương lai. Vì vậy, hồng ân này không thể chiếm hữu trong giây phút hiện tại, cũng không thể trả lại cho Chúa, hoặc thêm gì cho Chúa, nhưng là chứng tá cho mầu nhiệm của tình yêu tự hiến của Đức Kitô, luôn mở ra cho sự ngạc nhiên.
4.3 Thánh Thể như sự chia sẻ hồng ân cứu chuộc của Chúa trong lịch sử.
Một kết quả quan trọng của tầm nhìn cánh chung về phép Thánh Thể là sự chia sẻ có trách nhiệm của các Kitô hữu về hồng ân cứu chuộc của Chúa trong lịch sử, dọn đường cho Nước Chúa trị đến. Nếu hồng ân chỉ được đón nhận khi trao ban, mà không hy vọng trở về một cách tương tự (without expectation of return : mà không mong nhận lại) (thiếu in a similar fashion : thì cũng thế )cộng đồng Kitô hữu cũng được mời gọi thể hiện lời hứa về Nước Chúa mai sau. Phép Thánh Thể, như Wainwright nhận xét, “có một ý nghĩa truyền giáo không thể thoát được (nên dịch thoát: không thể không bao hàm ý nghĩa truyền giáo) , trong chừng mực nó là dấu chỉ của bữa tiệc lớn mà Chúa sẽ dọn ra... để diễn tả sự chiến thắng toàn diện của ý Chúa cứu độ và mục đích của Ngài (His saving will and purpose : ý định và mục đích cứu độ của Ngài)” (Eucharist and Eschatology, 128). Như thế có một dòng chảy thật sự đến hồng ân Thánh Thể mở ra khả năng đến với mọi người, và lôi kéo Kitô hữu vào hiệp thông trong chứng tá và sứ mạng.
Trong phép Thánh Thể, tình yêu tự hiến của Thiên Chúa tỏ lộ trong tình yêu tự hiến của Đức Kitô, và rồi, như David Power dự đoán (envision ở đây nên dịch là hình dung) : “Tình yêu tự hiến của Đức Kitô tỏ lộ hơn khi qua Chúa Thánh Thần tình yêu ấy được hiện thân trong Giáo hội, và đến phiên mình Giáo hội trao ban sự sống ấy, đổ tình yêu từ trong ra ngoài (tuôn trào tình yêu ấy từ trong lòng mình), để cho những người khác có thể chia sẻ được. Các Kitô hữu được thừa hưởng, và trở thành những người trao ban” (Sacrament: The Language of God’s Giving, 1999, 281). Do đó, các Kitô hữu không thể nói về tình yêu tự hiến của Đức Kitô trong phép Thánh Thể, nếu hồng ân này không đi vào lối sống của Kitô hữu, trong mọi cách diễn tả của họ về sự trống rỗng của mình (self-emptying : ở đây có lẽ phải hiểu là : sự tự hiến hay hiến thân, theo nghĩa cho đi tất cả con người chứ không phải là sự trống rỗng !), để họ trở nên người tham gia tích cực trong việc biến đổi thế giới. Nói cách khác, phép Thánh Thể là việc Kitô hữu đi vào mầu nhiệm của Đức Kitô khổ nạn và phục sinh khi Kitô hữu tuyên xưng sự tự hiến tự do của Đức Kitô, họ cử hành sự sống tự do của họ, đi vào tính không ích kỷ (unselfishness : mặc lấy tính vô vị lợi ) của cuộc sống cộng đồng của Chúa Ba Ngôi, và nhờ đó tham dự vào tình yêu vị tha của Chúa. Phép Thánh Thể và cánh chung liên kết mật thiết với nhau trong sự tự hiến của Đức Kitô. Trong nghĩa nào đó, người ta có thể nói rằng ý nghĩa ban đầu (primary : hàng đầu hoặc chính yếu) của phép Thánh Thể là tấm bánh được bẻ ra và được chia sẻ trong sự báo trước về tương lai.
Hành động đơn giản về mang lễ vật và kinh dâng lễ vật (có lẽ nên dịch : Chỉ nguyên hành vi dâng lễ vật và kinh dâng lễ cũng đã) nhắc lại các thực tại kinh tế, chính trị và xã hội của thế giới chúng ta và mọi hình thức sự sống, đem vào ý thức chúng ta mọi quà tặng đó, mọi thứ trao ban nhằm nuôi dưỡng cuộc đời chúng ta, sự thánh thiện và toàn thể vũ trụ. Trong khi cộng đồng Kitô hữu tiếp tục “tuyên xưng sự chết của Chúa cho đến khi Ngài lại đến” (1 Cr 11:26), phép Thánh Thể bao gồm (embraces : mang lấy, ôm lấy) các thực tại của kinh nghiệm con người, kể cả sự thiếu tự do và các kinh nghiệm về tha hóa và vấn đề sinh thái. Lúc đó, phép Thánh Thể được cử hành trong niềm hy vọng đạt tới sự tự do tối hậu từ thực tại cụ thể về đau khổ và sự chết. Niềm hy vọng đích thực được học lấy trong sự hiệp thông với Chúa, Đấng ở cùng ta, vì ta, và tham gia với chúng ta trong cuộc đấu tranh để đem lại một thế giới công bằng và yêu thương. Hiểu như thế, phép Thánh Thể có một ý nghĩa sâu sắc cho sứ mạng của Giáo hội trong thế giới hôm nay.
Dù tương lai nhân loại và vũ trụ ra sao chăng nữa, tác động cứu độ của Chúa sẽ gắn kết đầy đủ (fully consistent : sẽ hoàn toàn kiên định hoặc trung thành) với những gì Chúa đã làm trong lịch sử cứu độ, vốn được khẳng định một cách quyết định trong Đức Kitô. Vì lý do này, thế giới lịch sử là quan trọng thật sự, bởi vì nó làm trung gian cho lòng nhân từ và ơn cứu độ của Chúa đến với toàn thể nhân loại trong bí tích. Do đó, hạ giá lịch sử là hạ giá cánh chung. Do cánh chung “không thoát ra khỏi lịch sử, nó chuyển phán xét lên lịch sử và giúp tôn vinh lịch sử” (Bởi lẽ cánh chung không phá huỷ lịch sử, nhưng đưa ra phán xét và giúp lịch sử hoàn tất) (Martelet, the Risen Christ and the Eucharistic World, 165). Nói cách khác, lịch sử trần thế không nằm ngoài lịch sử cứu độ; nó còn dự báo cho một tương lai đổi mới nữa. Như vậy, cử hành Hiến tế tạ ơn như là một bí tích cánh chung hòa hợp cộng đồng Kitô hữu với giá trị của sự biến đổi xã hội, của thành công văn hóa và những cách thức khác, mà Chúa Thánh Thần đã làm trong thế giới. Trong việc cử hành Hiến tế tạ ơn, “hoa quả của Trái đất và kết quả của lao động con người” không chỉ nhắc nhở mọi người về mọi hồng ân tốt lành đã nhận được một cách nhưng không, mà còn tượng trưng cho việc con người nhớ đến (human longing for : khát vọng của con người) về sự đổi mới vạn vật trong tương lai.
5. 5. Việc cử hành Hiến tế tạ ơn như cảnh vực thần linh của Chúa Ba Ngôi:
Bài khảo luận của chúng tôi về tương quan giữa phép Thánh Thể và cánh chung cũng dẫn đến việc hiểu rằng Thánh Thể là cảnh vực thần linh, là nơi thánh của mầu nhiệm ban sự sống của Chúa Ba Ngôi. Khi Kitô hữu đến cử hành Hiến tế tạ ơn, với tư cách là cộng động cánh chung, họ thực sự tham dự vào hiệp thông với cuộc sống của Chúa. Không gì diễn tả rõ ràng hơn về điều này bằng kinh nghiệm Thánh Thể. Kinh nghiệm Thánh Thể diễn tả một cách tập trung, cả về lời nói lẫn hành động, thực tại của đức cậy trông Kitô giáo. Vinh tụng ca “nhờ Người, với Người, trong Người, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, mọi vinh dự và vinh quang đều thuộc về Ngài, lạy Chúa tối cao, cho đến muôn đời” (nên xử dụng bản văn phụng vụ) chỉ ra đường hướng cánh chung và Ba Ngôi (có lẽ nên thêm : đường hướng mang chiều kích cánh chung và ba ngôi). Như vậy, toàn việc thờ phượng Thánh Thể trở nên nơi để tiếp nhận và chuyển giao tầm nhìn của tương lai, khi mà mọi loài từ khắp nơi hướng đến Chúa Ba Ngôi, như là đầu (origine : cội nguồn) và cùng đích của vũ trụ.
Trong phép Thánh Thể, các tín hữu được mời gọi đi vào mối tương quan với từng ngôi trong Ba Ngôi. Lời mời gọi hiệp thông với đời sống của Chúa được thực hiện trong kinh nguyện phụng vụ, vốn thưa với Chúa Cha, qua trung gian Chúa Con là đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần.
Trước tiên, khi nói với Chúa Cha, “Đấng nguồn mạch với mọi sự thánh thiện” (Nguồn mạch mọi sự thánh thiện) (Kinh nguyện Thánh Thể 2), “nguồn mạch sự sống và lòng nhân lành” (kinh nguyện Thánh Thể 3 và 4), phép Thánh Thể là đỉnh cao của lời kinh Giáo hội tạ ơn “ân sủng viên mãn” (kinh nguyện Thánh Thể 4) đã được trao ban qua Đức Kitô, cũng như kinh ngợi khen về mọi hoạt động của Chúa trong lịch sử, cho thấy “sự khôn ngoan và tình thương của Chúa” (Kinh nguyện Thánh Thể 4). Trong việc cử hành ngợi khen và tạ ơn này, Chúa Cha xuất hiện như Chúa sáng tạo và Chúa của vũ trụ hoàn tất (God of creation and consummation : vị Thiên Chúa của sáng tạo và hoàn tất). Điều Chúa đã khởi đầu trong việc sáng tạo, Chúa sẽ cho nó trở nên viên mãn trong thời cánh chung, vì mục đích của Chúa trong việc Ngài làm là làm “cho mọi loài tràn đầy hồng phúc của Ngài” (Kinh nguyện Thánh Thể 4). Trong nghĩa này, phép Thánh Thể diễn tả lời tung hô vinh tụng ca của mọi loài, nghĩa là tham dự vào bài ca tung hô của toàn vũ trụ, lời tung hô “Thánh, Thánh, Thánh”. Toàn vũ trụ cử hành và ca tụng vinh quang của Chúa qua loài người. Như Enrico Mazza nhận xét: “Kinh Sanctus (Thánh Thánh Thánh) diễn tả sự hiệp nhất của phụng vụ thiên đàng với phụng vụ trần thế, vốn được cộng đồng chúng ta cử hành. Ở trần gian này, chúng ta lấy các thiên thần và các thánh làm gương mẫu cho việc thờ phượng và tôn vinh Chúa chúng ta; kết quả là, kinh tiến hiến có chiều kích cánh chung” (The Eucharistic Prayers of The Roman Rite, 1986, 163). Trong cử hành Hiến tế tạ ơn, tương lai cánh chung gặp gỡ và tạo dáng cho (shape : khuôn đúc) kinh nghiệm Kitô hữu để họ trở nên một với toàn thể vũ trụ, trở nên tiếng nói của vũ trụ trong bài ca chúc tụng Chúa luôn mãi.
Thứ hai là, cộng đồng Kitô hữu cử hành Hiến tế tạ ơn, như việc tưởng niệm Đức Kitô, trong bối cảnh kêu gọi nhớ đến mầu nhiệm phục sinh (Paschal mystery : tưởng nhớ mầu nhiệm Vượt Qua) về cuộc đời, cái chết, sự phục sinh và lên trời vinh hiển của Ngài. Trong cử hành Hiến tế tạ ơn, Đức Kitô xuất hiện như linh mục thượng phẩm, thực hiện việc phụng vụ, và qua Ngài Giáo hội thực thi hành động linh mục tương tự. Đáp trả lại lệnh truyền của Đức Giêsu “Hãy làm việc này mà nhớ đến ta”, cộng đồng các tín hữu cầu nguyện và tôn vinh Chúa: “Lạy Cha, chúng con nhớ lại sự chết của Con Cha phải chịu để cứu độ chúng con, việc Ngài sống lại vinh hiển và lên trời vinh quang, sẵn sàng gặp gỡ Ngài khi Ngài quang lâm, chúng con dâng lên Chúa hiến tế thánh thiện và sống động này để tạ ơn Chúa” (nên dùng bản văn phụng vụ). Khi Kitô hữu cử hành Hiến tế tạ ơn, ý nghĩa của biến cố Đức Kitô được tập chú nhiều (comes into focus : trở thành tâm điểm). Ở đây, họ cảm nghiệm việc Chúa sẽ quang lâm thời cánh chung. Họ cảm nghiệm bằng cách cử hành trong hình thức bí tích, vì trong phụng vụ, cử hành có nghĩa là “làm cho hiện diện”. Là việc cử hành tưởng niệm Đức Kitô, phép Thánh Thể yêu cầu cộng đồng Kitô hữu làm trung gian cho cảm nghiệm đầu tiên là Đức Kitô mời gọi mọi người vào Nước Trời. Phép Thánh Thể yêu cầu họ sống tương lai đang tới, nghĩa là Nước Chúa trị đến ngay lúc hiện tại này.
Thứ ba là, mọi sự được quy tụ nhờ quyền năng sáng tạo của Chúa Thánh Thần, Đấng ban sự sống. Nói rằng phép Thánh Thể làm chứng cho quyền năng Đức Kitô đang hoạt động trong lịch sử, là nói rằng Chúa Thánh Thần đang hoạt động, bởi vì Chúa phục sinh vinh hiển là Chúa đầy tràn Chúa Thánh Thần. Ở đây có một ý nghĩa rất thực tế, trong đó chúng ta biết được (acknowledge : nhận ra) các khía cạnh Kitô học và Thánh linh học (thiếu : của Bí tích Thánh Thể). Trong lịch sử cứu độ, cũng như trong Hiến tế tạ ơn, các nhiệm vụ (missions : sứ vụ) của Đức Kitô và Chúa Thánh Thần bổ túc cho nhau; việc cử một ngôi xuống thế hàm chứa việc cử thêm một ngôi khác nữa (có thể dịch thoát : sứ vụ của ngôi này bao hàm sứ vụ của ngôi kia). Như thế, mục đích của Epiclesis (Kinh khẩn cầu Thánh Linh) là hoàn tất công việc của Đức Kitô tự trao ban trong phép Thánh Thể. Trong phép Thánh Thể, các quà bánh và rượu (lễ dâng là bánh rượu) được thánh hiến và được biến đổi trong thực tại sau cùng (thành thực tại tối hậu) : “Chúng con xin Chúa thánh hóa để trở nên Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”. Chúa Thánh Thần được khẩn cầu, để cho sự hiệp thông trong mình Đức Kitô (Eucharistic communion in the body of Christ : hiệp thông thánh thể vào thân mình Đức Kitô) có hiệu quả nơi các tín hữu: “Xin cho những ai được nuôi dưỡng bởi mình và máu Chúa sẽ được tràn đầy Chúa Thánh Thần, và trở nên một thân xác, một tinh thần trong Đức Kitô”. John H. McKenna mô tả điểm này như sau:
“Đây là mục đích của phép Thánh Thể. Chính sự nội tâm hóa và thần hóa là công việc của Chúa Thánh Thần trong phép Thánh Thể. Ngài không chỉ là “Thánh thần hóa” (spiritize : có lẽ nên dịch là thánh linh hoá) bánh và rượu bằng cách làm cho thịt và máu Chúa Kitô hiện diện trong đó. Hơn thế nữa, Chúa Thánh Thần còn “Thánh thần hóa” những ai chia sẻ bánh và rượu, bằng cách làm cho Chúa vinh hiển hiện diện trong họ” (Theological Studies, 36.2, 1975, 278).
Đó là mục đích của phép Thánh Thể, xét như một sự kiện hiệp thông (event có lẽ nên dịch là biến cố hơn là sự kiện fact). Mục đích của phép Thánh Thể là thần linh hóa cộng đồng Kitô hữu, là sự hiệp thông của họ với Chúa Ba Ngôi, và hiệp thông với nhau. Khi được thánh hóa và biến đổi bởi tác động của Chúa Thánh Thần trong mình Chúa Kitô, cộng đồng Kitô hữu làm chứng cho vinh quang Thiên Chúa, và được đổi mới trong sự sống Chúa Ba Ngôi thật sự. Qua tình yêu tự hiến của Đức Kitô, và tính sáng tạo của Chúa Thánh Thần, Chúa Cha được cộng đồng Kitô hữu biết đến (có lẽ nên đảo lại : cộng đồng Kitô hữu được nhận biết Chúa Cha) và họ được thần linh hóa, như họ được lôi kéo vào biến cố cứu độ của Ba Ngôi Thiên Chúa. Như vậy, phép Thánh Thể nổi lên như sự tỏ hiện của mầu nhiệm hiệp thông của Chúa Ba Ngôi. Nói cách khác, phép Thánh Thể được tập trung vào vinh quang của Chúa Ba Ngôi, vốn được mặc khải trong cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô, và bao gồm lời hứa cuộc sống mới cho toàn vũ trụ. Do đó, là cảnh vực trao ban sự sống của Chúa Ba Ngôi (có thể dịch nhẹ hơn : Vì là nơi trao ban sự sống của Chúa Ba Ngôi, nên) phép Thánh Thể chỉ có thể rao truyền niềm hy vọng vinh quang mà thôi.
6. 6. Kết luận:
Chúng ta đã khám phá bản chất cánh chung của phép Thánh Thể và các hàm ý cho phụng vụ Kitô giáo, linh đạo và đời sống đạo đức, với mục đích là xây dựng một tổng hợp có hệ thống về cánh chung Thánh Thể. Do đó, là sự tưởng nhớ cuộc vượt qua của Đức Kitô, và như “việc bẻ bánh” (CVTĐ 2: 42-46) trong thời Giáo hội sơ khai, phép Thánh Thể được cử hành trong bối cảnh sự hiện diện của Chúa phục sinh giữa các môn đệ của Ngài (Lc 24: 28-35, 36-43; Ga 21: 9-13 ). Chia sẻ trong Hiến tế tạ ơn là một dự báo cho việc Đức Kitô sẽ quang lâm trong vinh quang và bữa tiệc thiên quốc.
Đối với Kitô hữu, một dấu chỉ rõ ràng của đức tin của họ là nhìn thấy tương quan giữa Nước Chúa và sự phục sinh. Sau cùng, là sự dự phần vào sự sống của Đấng phục sinh, cùng với sự biến đổi các yếu tố vật chất là bánh và rượu thành mình và máu Đức Kitô, phép Thánh Thể nói về các ước mơ và niềm hy vọng, do Đức Kitô để lại, về số phận tương lai của loài người và toàn thể vũ trụ. Bởi vì phép Thánh Thể cho phép và buộc cộng đồng các tín hữu sống “thời gian trung gian” hiện tại trong niềm hy vọng cánh chung, một cảm thức mới về sống giữa thế giới và sống hiệp thông đã được nêu ra nhằm thay đổi chân trời hy vọng. Ăn và uống ở bàn tiệc Thánh Thể là sống hiệp nhất với Đức Kitô và được nuôi dưỡng bởi tình yêu trao ban và biến đổi của Chúa Ba Ngôi. Việc cử hành Hiến tế tạ ơn là nơi gặp gỡ đặc biệt của Chúa Ba Ngôi và cộng đồng Kitô hữu trong phút giây hiện tại, như một biến cố của lịch sử cứu độ. Biến cố này chưa phải là một đối tượng của niềm hy vọng (this event is as yet an object of hope : Dầu vậy, biến cố này mới chỉ là đối tượng của niềm hy vọng), và hoạt động cho ơn cứu độ vào lúc hiện tại chỉ là sự khởi đầu hoặc một dấu chỉ và sự báo trước cho điều sẽ tới. Là thân mình của Đức Kitô, cộng đồng Kitô hữu dâng “hoa quả của Trái Đất, lao công của con người” cùng lôi kéo các từ ngữ, các dấu hiệu và cử chỉ (kết hợp các từ ngữ, dấu chỉ, các nghi thức cử hành lại với nhau) để làm sáng tỏ điều thật nhất, tốt nhất và đẹp nhất của sự thánh thiện và tình thương của Chúa. Mỗi kinh, mỗi hành vi chia sẻ, cùng nhau ăn uống trong phép Thánh Thể là có tính cánh chung, hướng đến sự hoàn tất trong tương lai viên mãn.
Như là nguồn mạch và mục đích của đời sống Kitô hữu, phép Thánh Thể nối kết toàn vũ trụ với Đức Kitô, Đấng là trưởng tử mọi loài và là điểm đến của mọi loài. Phép Thánh Thể liên kết các Kitô hữu với nhau, và lôi kéo họ đến với hiệp thông cánh chung của cộng đồng với Chúa, Đấng ban sự sống đời đời cho họ trong Đức Kitô và Chúa Thánh Thần. Một tầm nhìn mới về các loài thụ tạo đã bùng lên (a new vision of creation emerges : một nhãn quan mới về tạo thành xuất hiện). Khi tụ họp với nhau ở bàn tiệc Thánh Thể, các Kitô hữu trở nên thành phần của vũ trụ (tạo thành) được đưa vào vũ trụ của tình yêu và sự sống của Chúa Ba Ngôi:
“Lạy Cha, Cha là đấng thánh, và mọi loài phải chúc tụng Cha. Mọi sự sống và thánh thiện đều đến từ Cha qua Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, để từ Đông sang Tây, một hiến lễ hoàn toàn có thể dâng lên cho vinh quang danh Cha” (nên dùng bản văn phụng vụ) (Kinh nguyện Thánh Thể 3)
Như thế, kinh nghiệm của cộng đồng Kitô hữu khẳng định rằng Chúa đang thực hiện việc cứu độ chúng ta, ngay từ bây giờ, qua phép Thánh Thể. Nhờ việc rước Mình và Máu của Đức Kitô phục sinh, các tín hữu đến chia sẻ trong niềm hy vọng sự sống lại của Ngài và trong hồng ân sự sống đời đời, vì chính niềm hy vọng cánh chung sẽ biến đổi một cách có ý nghĩa nhất sự sống con người và ban ý nghĩa cho hành trình của chúng ta trong lịch sử.
Là thân mình của Đức Kitô, cộng đồng Kitô hữu được mặc khải như một dân tộc cánh chung, vì đó là một cộng đồng sống Thánh Thể, tức là cộng đồng cử hành mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô bằng cách ăn bánh và uống rượu trở nên thức ăn thức uống đích thực của Nước Chúa, do đó sống trong niềm hy vọng các lời hứa của Đức Kitô sẽ được thực hiện. Bởi vì phép Thánh Thể là hồng ân cánh chung của Chúa, việc ban hồng ân mở cửa cho niềm hy vọng và giúp các tín hữu nhắm đến một thế giới mới, như được diễn tả trong kinh nguyện Thánh Thể 2 về Hoà giải : “Trong thế giới mới này, nơi tỏ lộ sự viên mãn của hòa bình, quy tụ mọi dân nước, mọi ngôn ngữ, và mọi lối sống để chia sẻ trong bữa tiệc muôn đời” (nên dùng bản văn phụng vụ). Việc các tín hữu cùng nhau tụ họp để tung hô Chúa, cầu nguyện, cam kết với giao ước, được diễn ra trong sự hiệp thông của tình thương Chúa, Đấng đã thành lập cộng đồng Kitô hữu trong Nước của Chúa Con yêu dấu (Cl 1: 12-13).
Đây là nền tảng chắc chắn cho đức cậy trông Kitô giáo, sự hiện thân cánh chung của Chúa tự hiến trong đời ta vì sự sống của thế giới. Sự hiệp thông trong tình yêu vững bền (unfailing love) của Chúa được cử hành trong phép Thánh Thể là sự nếm trước và lời hứa cho sự hiệp thông tối hậu của ta với Chúa sau này. Những thử thách và đau khổ của chúng ta được đưa vào mầu nhiệm mà chúng ta cử hành, và tất cả những gì chân thiện mỹ do ta làm ra (những gì là chân, là thiện, là mỹ mà chúng ta thực hiện) sẽ dự phần rõ ràng trong mầu nhiệm đó. Được đầy niềm hy vọng trong sự sống lại của Đức Kitô, cộng đồng các tín hữu đi về một thế giới mới, nơi “Chúa sẽ là tất cả trong mọi sự” (1 Cr 15:28). Trong ý nghĩa này, phép Thánh Thể là việc cử hành của tương lai, cung cấp nền tảng cho hoạt động đầy hy vọng của Kitô hữu, và một tầm nhìn giải thoát có khả năng biến đổi cho sự sống của xã hội con người. Như thế, niềm cậy trông Kitô hữu bao trùm lịch sử và tiến trình vũ trụ; đây là một quà tặng của Chúa, giải thoát nhân loại để làm bạn với nhau (đó hoàn toàn là ân sủng thần linh, giải thoát nhân loại để nên bằng hữu với Thiên Chúa). Phép Thánh Thể đề nghị các Kitô hữu hãy hoạt động cho vinh quang tương lai trong hiện tại với sự dấn thân vui vẻ, tin rằng trong Đức Kitô, nhân loại và tất cả tạo thành sẽ được nếm hưởng trước s? s?ng mai sau s? ??n.
Nguyễn Trọng Đa dịch