TIỂU SỬ THÁNH E-MA (EYMARD)

1- Lược sử
ـ Tên: Phê-rô Giu-li-a-nô E-ma (Eymard).
ـ Ngày sinh: Ngày 4 tháng 2, 1811.
ـ Nơi sinh: La Muya đi-ze (La Mure d’Isère), Pháp.
ـ Ngày rửa tội: 5 tháng 2, 1811.
ـ Địa phận gốc: Gờ-rơ-nốp (Grenoble), Pháp.
ـ Thụ phong Linh Mục: 20 tháng 7, 1834.
ـ Bề trên Tỉnh Dòng Đức Mẹ năm 1845 lúc 34 tuổi.
ـ Sáng lập Dòng Thánh Thể năm 1856 lúc 45 tuổi.
ـ Sáng lập Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể năm 1858 lúc 47 tuổi.
ـ Qua đời: Ngày 1 tháng 8, 1868.
ـ Nơi tạ thế: La Muya đi-ze (La Mure d’ Isère), Pháp.
ـ Nguyên nhân cái chết: Những cơn qui đột dồn dập và kiệt sức.
ـ Được phong Chân Phước: Ngày 12 tháng 7, 1925 do Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI.
ـ Được phong Hiển Thánh: Ngày 9 tháng 12, 1962 do Đức Giáo Hoàng Gio-an 23, đồng thời được tuyên xưng là “Vị Đại Tông Đồ Thánh Thể”.
ـ Lễ kính: Ngày 2 tháng 8.
2- Thánh Eymard - Đấng Sáng Lập Dòng Thánh Thể
Phê-rô Giu-li-a-nô E-ma (Eymard) sinh ngày mùng 4 tháng 2 năm 1811 tại làng La Muya (La Mure), nước Pháp. Mẹ của E-ma là người lòng sùng kính và yêu mến đặc biệt đối với Thánh Thể, nên bà thường đem cậu đi viếng hoặc chầu Thánh Thể.
Ngay từ bé, E-ma đã tỏ ra rất bén nhạy với những việc thiêng liêng và đạo đức. Tuy nhiên, cậu đã phải trải qua một hành trình dài, thật dài để cuối cùng mới nhận ra được ơn gọi của mình là hiến thân phục vụ và loan truyền tình yêu của Chúa Giê-su nơi Thánh Thể cho Giáo Hội tại Pháp, sáng lập hai dòng tu và một hiệp hội giáo dân để phụng sự Thánh Thể.
Mặc dầu E-ma hằng ước ao trở thành linh mục, nhưng con đường đi đến thiên chức linh mục không dễ chút nào. Ông thân sinh của E-ma phản đối kịch liệt ơn gọi cậu muốn dâng mình cho Chúa đến nỗi cậu phải học La tinh cách lén lút. Sau khi cha qua đời, E-ma được tự do theo đuổi ơn gọi của mình. Cậu xin gia nhập và được nhận vào chủng viện Giáo Phận Gờ-rơ- nốp (Grenoble), rồi sau những năm chuẩn bị ở chủng viện, thầy đã được chịu chức linh mục vào ngày 29 tháng 7 năm 1834.
Kế đó, cha E-ma được cử về làm cha phó họ Sát (Chatte), ba năm sau được bổ nhiệm làm cha sở Mông-tây-na (Monteynard). Tại giáo xứ này, cha được hầu hết giáo dân thương mến, nên họ luôn lắng nghe và tuân theo những chỉ dạy của ngài. Vì thế, chỉ vỏn vẹn hai năm sống với họ, mọi người đã lên rước lễ trong Mùa Phục Sinh.
Khi làm cha phó ở Sát (Chatte), một biến cố xảy ra đã ghi dấu rất đậm nét trên đời sống thiêng liêng của cha E-ma. Đang lúc cầu nguyện ban chiều, lòng cha tràn ngập cảm nhận Thiên Chúa thiện hảo dường bao! Cha còn nhắc lại biến cố ấy cho mãi đến lúc gần sinh thì. Trong khi đó, ước vọng trở thành tu sĩ cứ đeo bám cha mãi. Dòng Đức Mẹ - một dòng tu mới được thành lập đã thu hút cha. Thế là cha lên xin phép giám mục và sau khi được phép, cha đã gia nhập hội dòng này. Việc chuyển ơn gọi vào dòng có lẽ phát nguồn từ lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt của ngài ngay từ thuở ấu thời. Cha nói : “Như Gia- cóp, tôi luôn di chuyển trên cuộc hành trình”. Hình ảnh này mô tả khá rõ con người của cha E-ma cũng như minh hoạ cho chúng ta thấy sự tiến triển không ngừng về tư tưởng, đời sống thiêng liêng và linh đạo của ngài.
Thời gian ở trong Dòng Đức Mẹ, Cha đã nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng của Dòng. Vào ngày lễ Mình Máu Thánh, lúc ấy cha E-ma đang làm giám tỉnh, cha được mời mang Mình Thánh qua các đường phố của Li-ông (Lyon). Trong cuộc rước kiệu kéo dài hai giờ ấy, cha được Thánh Thể tác động mạnh mẽ trong tâm hồn và cha đã phó thác cho Chúa Giê-su tất cả nhu cầu của Giáo Hội, của nước Pháp, và của cả thế giới. Đây là một thời khắc quan trọng khác trong cuộc đời của cha. Cha ghi lại trong cuốn sổ riêng rằng : “Từ đầu tháng này, tôi cảm thấy một sức hút cực kỳ mạnh mẽ hướng tôi về Thánh Thể. Thật chưa bao giờ mạnh mẽ như thế. Sức hút này thúc bách tôi phải làm cho mọi người yêu mến Chúa, rao giảng về Chúa Ki-tô mà thôi và là Chúa Kitô trong nhiệm tích Thánh Thể.”
Ngày nọ, khi cha E-ma đang cầu nguyện trong ngôi nhà nguyện tại đền thánh Đức Mẹ Phuốc-vi-e (Fourvière), cha đã bị lay động cách mạnh mẽ bởi nhu cầu thiêng liêng của các linh mục và tu sĩ. Ngài cũng bị đánh động về sự kiện là mọi mầu nhiệm trong cuộc đời của Đức Ki-tô đều đã có các dòng tu tôn kính cách đặc biệt rồi. Chỉ còn Thánh Thể, một mầu nhiệm cao cả nhất trong các mầu nhiệm thì lại chưa có nhóm tu sĩ riêng biệt nào tôn kính và phụng sự cả. Phải có một nhóm như vậy. Kể từ đó, ơn gọi phụng sự bí tích Thánh Thể đã liên tục đeo đuổi cha.
Suốt những năm sống trong Dòng Đức Mẹ, linh mục tu sĩ E-ma đã từng bước ý thức hơn về những khởi hứng Thánh Thể đã tác động, đã thúc đẩy một số bạn bè và những người thân của cha dấn thân phục vụ. Chính bản thân cha cũng sớm được lôi cuốn và nung đốt bởi tình yêu cao cả của Chúa Giê-su được biểu lộ nơi Thánh Thể. Tình yêu ấy đã xâm chiếm, đã chi phối hoàn toàn đời sống của cha và thúc bách cha đến độ cha phải xin rút khỏi Dòng Đức Mẹ với muôn ngàn day dứt, khó khăn, gian khổ để thực hiện ơn gọi sáng lập Dòng Thánh Thể.
Theo tháng năm, cha E-ma đi đến chỗ cân nhắc việc thành lập hai hội dòng, một cho nam và một cho nữ - tức là Dòng Thánh Thể và Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể - mục tiêu nhắm tới là hoạt động để Thánh Thể trở thành trung tâm đời sống và linh đạo của họ, để đặt Mình Thánh tôn thờ thường xuyên và để lan truyền ngọn lửa kính mến nhiệm tích Thánh Thể đến hết mọi người. Cha E-ma còn muốn đặc sủng này nới rộng đến giáo dân và ngài đã khai mở một hiệp hội dành cho họ.
Cha E-ma đã hỏi ý kiến Đức Giáo Hoàng hồi ấy để biết ý Chúa và xin ngài chúc lành cho công việc; cha cũng đã hỏi ý của ba giám mục tại Pa-ri để xem điều ấy có thực sự từ Thiên Chúa mà đến hay không. Cha đã nhận được những phản ứng rất ưu ái từ bốn đấng và vì thế, cha đã sẵn sàng rời Dòng Đức Mẹ để bắt tay vào công cuộc Thánh Thể này.
Cùng với một người bạn đồng hành nữa là cha Đờ Qui-es (de Cuers), cha đã khởi sự đặt Mình Thánh Chầu Thánh Thể tại Pa-ri vào năm 1856. Nhiều người hứa với cha là sẽ đến gia nhập tu hội nhưng rồi họ lại thôi. Hai năm sau, cha mời được cô Mác-gơ-rít Ghi-ô (Marguerite Guillot) và một vài phụ nữ khác để cùng họ hình thành nên nhánh nữ Thánh Thể. Cô Mác-gơ-rít Ghi-ô (Marguerite Guillot) là cộng tác viên chính yếu của cha. Cha đã hướng dẫn đời sống thiêng liêng cho cô trong nhiều năm bên Dòng Ba Đức Mẹ khi ngài còn là tu sĩ Dòng Đức Mẹ.
Cha E-ma đã bắt đầu sáng lập hai hội dòng ngay giữa những khó khăn nghèo túng, bị nhiều người bán tín bán nghi, lại còn bị hiểu lầm, bị xét đóan một cách vội vàng hấp tấp. Tuy thế, lúc ngài qua đời thì Dòng Thánh Thể đã có mặt tại Pa-ri, Ăng-gie (Angers), Mạc-xây ( Marseilles), và Xanh Mô-ris (Saint Maurice) trên đất Pháp, và Bờ-rút-xen (Brussels) ở Bỉ. Các chị Nữ Tỳ Thánh Thể lúc đó mới chỉ có 60 thành viên và chỉ hiện diện tại Ăng-gie (Angers) mà thôi, cơ sở mới tại đây cuối cùng mới được hình thành sau bao nhiêu nỗ lực vất vả thất bại của các sơ, còn cha E-ma thì nhiều lần đau nhói tim gan.
Cha E-ma sống vào thời sau Cách Mạng Pháp, đó là một thời kỳ chống Giáo Hội, người ta coi các linh mục và tu sỹ là những kẻ thù. Tuy nhiên cha bất chấp mọi hiểm nguy, xả thân phục vụ những người nghèo và những ai thấp cổ bé miệng trong xã hội Pháp bấy giờ, thăm viếng tù nhân tại các nhà tù và những công nhân tại nhà máy của họ. Đây là một duyên cớ đã giúp cha thoát vòng nguy hiểm nhiều lần, vì người ta coi ngài như một người bạn và họ đã bảo vệ ngài khi ngài bị tấn công. Ở Pa-ri, cha bắt đầu hoạt động tông đồ giữa những công nhân trẻ ít học, ngài tạo cho họ cơ hội để học biết giáo lý và rước lễ lần đầu.
Cha E-ma qua đời ngày 1 tháng 8 năm 1868 tại La Muya (La Mure), nơi ngài sinh trưởng. Vào ngày 12 tháng 7 năm 1925, cha được Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI phong chân phước, rồi khi bế mạc kỳ họp thứ nhất của công đồng Va-ti-ca-nô II, Đức Thánh Cha Gio-an XXIII đã nâng ngài lên bậc hiển thánh. Trong dịp này, Đức Giáo Hoàng đã nói những lời sau đây: “Noi gương thánh E-ma, hãy đặt Thánh Thể, là nguồn mọi ân sủng không gì có thể so sánh được, ở ngay trung tâm tư tưởng, tình cảm, và lòng hăng say nhiệt thành của anh chị em, đây là mầu nhiệm đức tin, mầu nhiệm che phủ chính tác giả của ân sủng là Chúa Giê-su Ngôi Lời Nhập Thể”.
Lm. Giu-se Phạm Đình Ái, SSS